CẬN CẢNH CÁC PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH
Các giáo sĩ hiện đang tham gia vào một số các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh và các Phong Trào gần giống như các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trên thế giới. Trong khi mỗi một phong trào này đều chịu ảnh hưởng của các giáo sĩ chúng tôi, thì mỗi một phong trào đều có những khác biệt nữa.
Dù có các dị biệt này, hầu hết tất các các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đều vẫn có một số những đặc tính chung đặc trưng. Trong các điển hình sau đây, bạn sẽ thấy được vì sao một số giáo sĩ lại tham gia vào các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Một số đã đóng góp cho phong trào từ lúc nó vừa phôi thai, trong khi đó một số khác thì đã đến với phong trào sau khi phong trào đã bắt đầu khá lâu. Trong mỗi trường hợp, từ chúng chúng ta có thể rút ra một số các bài học mà chúng ta có thể áp dụng sang những tình huống khác.
Một Nhóm Người ở Châu Mỹ La-tinh
Bối cảnh
Giống như các quốc gia khác ở Châu Mỹ La-tinh, nhóm người này có một số dân pha tạp bởi các dòng giống Châu Âu, Tây Ban Nha, và Châu Phi. Hàng thập kỷ dưới sự cai trị độc đoán đã bóp nghẹt sự phát triển về kinh tế và hạn chế những quyền tự do cá nhân. Quốc gia này nghèo khổ, nhưng dân chúng tương đối có học thức so với các quốc gia khác trong khu vực, với tỷ lệ biết chữ trên 90 phần trăm.
Theo truyền thống, có khoảng hơn 95 phần trăm dân số là Công Giáo La Mã. Tuy nhiên, trong hơn 25 năm qua, chính quyền đã cố đàn áp tự do tôn giáo. Sau đó, năm 1991, chính quyền đã bớt gay gắt, tự do hóa nền kinh tế của đất nước mình và xoa dịu tôn giáo. Sự tự do tôn giáo không phải là một quyền được bảo vệ, nhưng những điều kiện đang được cải thiện. Những tín hữu Báp-tít Nam Phương bắt đầu công tác truyền giáo của mình ở quốc gia này cách đây đã hơn một thế kỷ. Hơn 75 năm, các giáo sĩ đã thành lập các hội thánh, huấn luyện các lãnh đạo, và phát triển hiệp hội Báp-tít tại địa phương bao gồm khoảng 3.000 thành viên. Sau một cuộc đảo chính quân đội, toàn bộ các giáo sĩ bị cầm tù và sau đó bị trục xuất ra khỏi quốc gia. Cùng ra đi với họ là một nữa số thành viên các tín hữu Báp-tít tại địa phương và nhiều người trong hàng ngũ lãnh đạo. Nhũng thập niên sau đó đã đe dọa loại bỏ hội thánh ra khỏi quốc gia này. Bắt bớ, lao tù và tra tấn tràn lan. Trong thời gian bắt bớ, số lượng tín hữu tăng lên chậm chạp.
Điều đã xảy ra
Nhờ vào những nỗ lực truyền giáo của Hoa kỳ và Hiệp Hội Báp-tít Phương Nam, những tín hữu Báp-tít ở quốc gia này đã phát triển thành hiệp hội bắc phương và hiệp hội nam phương. Bất kể sự chia rẽ này, các hai hiệp hội này đã kinh nghiệm được các Phong Trào.
Mở Mang Hội Thánh trong thập niên 1960
Trước năm 1989, hiệp hội bắc phương có tổng số thành viên ngót nghét 5.800. Cũng trong năm đó, họ đã bắt đầu kinh nghiệm đuọc một sự thức tỉnh khi số thành viên tăng 5,3 phần trăm và sau đó là 6,9 phần trăm trong năm kế tiếp. Cuối thập kỷ 1990, những thành viên của hiệp hội bắc phương đã tăng từ 5.800 lên hơn 14.000. Cũng trong cùng một giai đoạn này, số lượng hội thánh tăng từ 100 lên đến 1.340. Trong báo cáo cuối cùng, có dấu hiệu nho nhỏ cho thấy sự phát triển này đang chậm dần. Hiện nay, hơn 38.000 tín hữu thường xuyên đi nhóm lại trong các hội thánh đang đợi thánh lễ báp-tem.
Những sự phát triển tương tự cũng đang xảy ra trong hiệp hội nam phương. Trong năm 1989, họ có 129 hội thánh với số lượng các thành viên dưới 7.000. Với 533 thánh lễ báp tem trong năm này, chúng cho thấy các dấu hiệu của sức sống. Đến năm 1998, số lượng thành viên của họ đã lên đến gần 16.000 với số lượng thánh lễ báp tem hàng năm gần đến 2.000. Số luợng hội thánh tăng lên trong giai đoạn này là từ 129 đến 1.918, một tỷ lệ tăng trưởng đáng chú ý 1.387 phần trăm trong thập kỷ này.
Các yếu tố then chốt
Một vài yếu tố đóng góp cho Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở quốc gia Châu Mỹ La-tinh này. Các giáo sĩ ngoại quốc đã đóng các vai trò rất mang tính chiến lược. Vai trò thứ nhất là khi các giáo sĩ giới thiệu phúc âm cho quốc gia này lần đầu tiên. Họ đã lập các hội thánh mới một cách vững chắc trên Lời Đức Chúa Trời và chức tế lễ của tất cả các thánh đồ. Tuy nhiên, cuộc biến động trong chính phủ xảy ra đã buộc họ phải ra đi, Cơ-đốc-giáo có một lựa chọn: Trở nên mang tính bản địa hoặc là chết đi. Trong những năm sau đó, việc quốc gia này tách ly khỏi sự tiếp xúc với các tín hữu bên ngoài đã làm tăng thêm tiến trình bản địa hóa bằng cách giảm tối thiểu khả năng hỗ trợ các nguồn ngân quĩ từ hải ngoại cho dùng để xây các đền thờ và chi cho các khoản phụ cấp cho các mục sư.
Trong suốt những năm bị cách ly này, các giáo sĩ trung gian làm việc bên ngoài quốc gia đã truyền ra phúc âm đều khắp trên vùng đất này bằng các chương trình phát thanh truyền giảng phúc âm bằng ngôn ngữ của bản xứ là Tây Ban Nha. Các giáo sĩ và các Cơ-đốc-nhân lưu vong đã dành thời gian dài và đều đặn để cầu nguyện cho các tín hữu và những người hư mất đang sống trong nước.
Khi các giáo sĩ IMB tái liên lạc với các hội thánh này vào cuối thập niên 1980, họ đã tìm thấy đức tin Báp-tít đã bén rễ sâu trong quốc gia này. Vào thời điểm này, các giáo sĩ đã cống hiến sự đóng góp thứ hai bằng cách nuôi dưỡng phong trào này thông qua sự cầu nguyện, môn đồ hóa, huấn luyện cho hàng ngũ lãnh đạo và các tổ chức truyền giảng và phương pháp hội thánh tế bào - không tạo ra sự phụ thuộc hoặc áp đặt sắc thái ngoại quốc lên phong trào.
Một vài các yếu tố và đặc tính khác đã đóng góp cho phong trào. Ngay từ đầu, Kinh Thánh và sự thờ phượng đã ở trong ngôn ngữ của tấm lòng những người ở đây. Được hỗ trợ bởi tỷ lệ biết chữ cao, Kinh Thánh đã trở thành trung tâm đời sống thuộc linh của tập thể và cá nhân.
Cầu nguyện cũng là một thành phần chủ yếu. Những tín hữu Báp-tít trong phong trào này đã miêu tả chính mình như là “những nguời quì gối.” Cầu nguyện đã chan chứa trong sự thờ phượng và đời sống hàng ngày của họ. Họ cũng là những người yêu thích ca hát. Các buổi nhóm thờ phượng vang vọng những bài thánh ca và những bài hát ngợi khen bằng ngôn ngữ tấm lòng của họ. Một lãnh đạo hội thánh đã miêu tả âm nhạc như là “một hình thức đấu tranh chống lại một thế giới vô tín”.
Một thử thách quan trọng đã xảy ra cùng với sự khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng vào năm 1992, đã làm cho các thành viên của hội thánh không còn vượt qua những đoạn đường xa để đến các ngôi nhà thờ để thờ phượng. Một lần nữa, phong trào lại ở ngã ba đường: Họ có thể tự rút lui và chuyển sang đức tin không có hội thánh, hoặc là phản ứng một cách sáng tạo đối với thử thách này. Các tín hữu đã chọn giải pháp sau khi họ chuyển các cuộc nhóm họp của mình vào trong những ngôi nhà và thấy rằng sự tăng trưởng phát triển khá nhanh chóng. Một lần nữa, các giáo sĩ Báp-tít lại đóng vai trò chiến lược bằng cách giới thiệu các khuôn mẫu hội thánh tế bào đang được sử dụng ở một số vùng trên thế giới. Trong năm đầu tiên (1992-93), chỉ riêng hiệp hội bắc phương đã mở mang 237 hội thánh.
Trên khắp đất nước, nền kinh tế què quẹt và tiền đồ chính trị bất ổn đã tạo nên một môi trường chín mùi cho các giải pháp và các phương án mới. Càng ngày càng ít khó khăn và càng ít cần phải nói cho người ta về sự hư mất; mọi thứ xung quanh họ đã phản ánh sự vô vọng và chán nản. Trong mối hỗn loạn này, các nhà lãnh đạo Báp-tít đã thúc giục đàn chiên của mình sử dụng lòng nhiệt thành truyền giảng của mình để cứu cả dân tộc. Vào giữa thập niên 90, hiệp hội bắc phương đã mở một Học Viện Truyền Giáo bán chuyên để cung cấp chương trình huấn luyện một năm cho các nhà truyền giáo bán chuyên. Vào năm 1998, đã có 110 người tốt nghiệp và thêm 40 người đăng ký học. Hai hiệp hội đã sử dụng gần 800 giáo sĩ tư gia trên khắp đất nước. Trong hai năm qua, các nhà lãnh đạo hiệp hội đã thuật lại rằng “hàng trăm người đang đáp ứng đáp sự kêu gọi cho các chuyến truyền giáo trong đất nước của họ.” Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trong quốc gia này đang sẵn sàng ảnh hưởng đến các quốc gia khác ở khắp Châu Mỹ La-tinh và trên khắp thế giới.
Các Yếu Tố Duy Nhất
Tuy rằng Đức Chúa Trời rõ ràng là đang làm một việc lớn lao ở quốc gia này của Châu Mỹ La-tinh, một phần bóng tối vẫn bao phủ trên phong trào. Theo báo cáo gân đây nhất, hơn 38.000 tín hữu trung tín nhóm lại trong các hội thánh của hiệp hội bắc phương nhưng vẫn chưa được làm phép báp-tem. Thêm 2.800 tân tín hữu đăng ký vào các lớp báp-tem. Tại sao có sự trì hoãn này trong việc làm phép báp-tem cho các tân tín hữu?
Một nhà lãnh đạo của hiệp hội giải thích “Trước khi đất nước chúng tôi đóng các cửa không cho các giáo sĩ vào, các hội thánh ở Châu Mỹ đã hỗ trợ chúng tôi xây dựng sáu công trình. Cách đây hai mươi năm, một trong các hội thánh của chúng tôi đã có cuộc thảo luận nóng bỏng về một vấn đề thần học nào đó (đã lâu nên đã quên) và đã mang lại hậu quả là sự chia rẽ và các ngôi đền thờ bị mất. Kể từ đó, chúng tôi đã học biết rằng cần phải cẩn trọng trong việc cho phép những người ngoài trở nên những thành viên đủ lông đủ cánh, e rằng họ cũng cướp mất những tòa nhà còn lại của chúng tôi.”
Các Điểm Học Tập
1. Sự chuyển đổi thành các hội thánh tư gia trùng khớp với sự gia tăng nhanh chóng trong sự phát triển của hội thánh. Nó giúp hội thánh thoát khỏi những giới hạn thuộc thể và đưa chứng nhân cho phúc âm vào trong cộng đồng.
2. Hàng ngũ lãnh đạo của hiệp hội giúp định hướng và khuyến khích phong trào hội thánh tư gia, dù rằng điều này có nghĩa là họ phải giảm thiểu phương tiện kiểm soát.
3. Sự bắt bớ giúp loại trừ ra những ai không phải là những người thực sự quyết tâm bước theo Đấng Christ. Cũng trong giai đoạn này, giáo lý của Báp-tít về chức tế lế của thánh đồ đảm bảo được sự sống còn của hội thánh, khi đó các hội thánh khác, những hội thánh được tổ chức theo cơ chế hẳn hoi thì bị đè bẹp.
4. Các giáo sĩ đóng các vai trò then chốt trong việc giới thiệu phúc âm; họ khích lệ khải tượng về Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; giới thiệu phương pháp hội thánh tế bào và giúp bảo vệ phong trào khỏi phải phụ thuộc vào các nguồn ngân quĩ hải ngoại.
5. Các giáo sĩ bán chuyên được huy động và huấn luyện đã và đang là bí quyết của việc khởi xướng phong trào trên khắp đất nước.
Một Vùng ỏ Trung Hoa
Bối cảnh
Trung Hoa vào những năm đầu của thập kỷ 1990 quay cuồng trong cuộc biến động kinh tế dữ dội. Sự bùng nổ kinh tế đã để lại những chênh lệch khá lớn về người có và người không. Sự đô thị hóa nhanh chóng đã hủy bỏ gia đình theo truyền thống và những hiệp hội của cộng đồng. Cả quốc gia hồi hộp chờ đợi một chế độ kế thừa các học thuyết của Mao Trạch Đông là học thuyết đã duy trì tư tưởng tập thể trong gần bốn thập niên.
Những tư tưởng mới lây lan khắp quốc gia và được xem xét với nhiệt tình xen lẫn phản đối. Phong trào dân chủ của sinh viên bị đàn áp, dẫn đến cuộc đụng độ với các lực lượng chính quyền tại Quảng Trường Thiên An Môn vào năm 1989, đã làm cho nhiều thanh niên tuyệt vọng về sự cải cách chính trị, tuy nhiên vẫn tìm kiếm một hy vọng mới nào đó cho một tương lai sáng lạn hơn.
Điều đã xảy ra
Trong bối cảnh này, vào năm 1991 Ủy Ban Truyền Giáo Quốc Tế đã cử một nhà điều phối chiến lược sang một địa phương mà chúng tôi gọi là Yanyin. Trong vòng một năm học ngôn ngữ và tìm hiểu về văn hóa, vị giáo sĩ đã tiến hành cuộc phân tích cặn kẽ về Yanyin. Nó gồm 7 triệu dân sống rải rác giữa vòng bốn sắc tộc trong một số các vùng nông thôn và thành thị. Ông đã vẽ các bản đồ các trung tâm dân cư của họ và bắt đầu các cuộc thăm dò cho công tác truyền giáo. Sau một số những khởi đầu sai lạc, nhà điều phối chiến lược đã triển khai một khuôn mẫu mở mang hội thánh mang sắc thái bản địa và nó đã mang lại hiệu qủa lớn lao.
Trong cuộc khảo sát đầu tiên của mình, nhà điều phối chiến lược đã tìm thấy ba hội thánh địa phương bao gồm 85 Cơ-đốc-nhân thuộc tộc người Hán. Các thành viên chủ yếu là người già cả và đã và đang giảm sút dần trong nhiều năm rồi mà không có khải tượng hay viễn cảnh nào cho sự phát triển cả. Trong vòng bốn năm sau đó, với ân điển của Đức Chúa Trời, nhà điều phối chiến lược đã giúp cho phúc âm bén rễ tươi mới giữa vòng nhóm người này và nhanh chóng lây lan khắp vùng Yanyin.
Vào thời điểm này, phong trào đang lây lan quá nhanh chóng đến nỗi nhà điều phối chiến lược nghĩ rằng Ông có thể rút ra khỏi công việc một cách an toàn mà không làm giảm sút đà phát triển của nó. Năm sau đó, dù không có mặt ông, phong trào gần như tăng lên gấp ba khi tổng số hội thánh lên đến 550 với hơn 55.000 tín hữu.
Nhận thức được các rào cản khá lớn về văn hóa và ngôn ngữ đã làm cho ông tách biệt khỏi người dân Yanyin, vị giáo sĩ đã bắt đầu huy động những cộng sự viên Cơ-đốc Trung Hoa từ Châu Á. Sau đó, cùng với những người mở mang hội thánh người Trung Hoa này, với một đội nhỏ các tín hữu địa phương, nhóm này đã mở mang được sáu hội thánh vào năm 1994. Năm sau, thêm 17 hội thánh nữa được khởi lập. Năm kế tiếp, 50 hội thánh nữa được khởi lập. Vào khoảng năm 1997, sau ba năm khởi lập, số lượng hội thánh đã lên đến 195 và lây lan ra khắp vùng và bén rễ trong mỗi một trong năm nhóm này.
Các yếu tố then chốt
Từ khi không còn hầu việc với chức vụ của mình tại Yanyin kể từ năm 1997, nhà điều phối chiến lược đã lưu ý khá nhiều đến việc
xem xét các yếu tố đã làm cho các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh hội thánh phát triển một cách nhanh chóng đến như vậy. Tất cả chúng tôi đều là những người hưởng lợi từ sự phân tích này, là cuộc phân tích mà tôi sẽ đề cập đến dưới hình thức tóm tắt trong đây.
Cũng như với nhiều chức vụ khác, chức vụ tại Yanyin cũng được kèm theo sự cầu nguyện ngay cả trước khi nó được phôi thai. Những gì khởi đầu bằng một niềm tin cá nhân trong phẩm chất cầu nguyện đã trở thành một phần của "gien" di truyền của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khi các tín hữu đầu tiên mô phỏng theo khuôn mẫu của vị giáo sĩ.
Sự huấn luyện và cơ cấu tổ chức là các yếu tố then chốt để khởi đầu sự phát triển nhanh chóng của phong trào, và thông lệ “ứng đáp có chọn lọc” cũng vậy. Ứng đáp có chọn lọc là một thông lệ sử dụng một công cụ truyền giảng với qui mô lớn, chẳng hạn như video, radio, hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng khác, được kết hợp song đôi với “vòng phản hồi” hoặc một cơ chế chọn lọc khác cho phép nhà truyền giáo góp nhặt từ việc công bố những người nào thích được tiến xa hơn trong mối quan hệ. Trong phương thức này, việc gieo giống lúc nào cũng được kết hợp với một nỗ lực “kéo lưới” và tập hợp những người muốn tìm hiểu vào lớp học Kinh Thánh là mục tiêu được hướng đến lúc mối thành lập hội thánh.
Chúng ta hãy quan sát kỹ càng hơn về việc huấn luyện và cơ cấu tổ chức mà vị giáo sĩ đã áp dụng. Vị giáo sĩ đã khởi đầu với một nhóm nhỏ làm nên tảng gồm một số các tín hữu được ông môn đồ hóa và huấn luyện về các phương pháp căn bản trong việc mở mang hội thánh. Vị giáo sĩ gọi phương pháp mở mang hội thánh của mình là phương pháp POUCH. POUCH là một chữ viết tắt của các chữ cái đầu. P chỉ các nhóm học Kinh Thánh và thờ phượng theo phương thức cùng tham gia , miêu tả các buổi nhóm của các nhóm tế bào thông qua các cảm tình viên là những người được đưa đến đức tin và các tân tín hữu sau đó sẽ kế tục với tư cách là một hội thánh. O chỉ sự vâng phục Lời Đức Chúa Trời như là một phương tiện duy nhất cho sự thành công của một cá nhân hoặc một hội thánh. U chỉ về các nhà lãnh đạo hội thánh không huởng lương , đa hoặc lưỡng nghiệp. C chỉ về các hội thánh tế bào với số lượng hiếm khi vượt quá 15 thành viên trước khi phát triển thành các nhóm mới. H chỉ về những ngôi nhà hoặc phần trước của các cửa hiệu các nơi nhóm hàng đầu cho các hội thánh tế bào. Mỗi một đặc tính này góp phần của mình cho sự phát triển của các hội thánh theo phương thức không dựa trên sự trợ giúp về tài chánh, kỹ thuật, hoặc việc khởi xướng từ bên ngoài.
Nhà điều phối chiến lược này đã làm thấm nhuần những tân tín hữu đầu tiên với một khải tượng để cứu toàn bộ người dân Yanyin bằng phúc âm. Ông đã san sẻ với học cuộc nghiên cứu của ông về nơi các nhóm người chưa được cứu sống và đảm bảo với họ rằng Đấng Christ đã trang bị cho họ tất cả những gì họ cần để cứu toàn bộ khu vực này bằng phúc âm.
Khuôn mẫu mà ông đã dạy dỗ về việc mở mang hội thánh mới được xây dựng theo bốn bước: 1) Mô phỏng , 2) Hỗ trợ , 3) Quan sát và 4) Ra đi . Mô phỏng chỉ về việc mở mang hội thánh với những tín hữu mới (hoặc sắp trở thành) bằng cách áp dụng phương pháp POUCH như đã được miêu tả ở trên. Hỗ trợ là việc giúp đỡ hội thánh mới được thành lập mở mang thêm một hội thánh mới. Quan sát là một nỗ lực quan trọng và tỉnh táo để kiểm tra xem hội thánh thuộc thế hệ thứ ba này có được thành lập mà không cần đến sụ hỗ trợ hoặc can thiệp trực tiếp của vị giáo sĩ không. Ra đi là một bước trọng yếu cuối cùng để đảm bảo rằng phong trào thực sự là mang tính bản địa và tự truyền giáo.
Trong một thời gian rất ngắn, những tân tín hữu tại Yanyin đã khởi lập nhiều hội thánh POUCH trong khắp vùng, mỗi một trong số các hội thánh này đã mô phỏng, hỗ trợ các nỗ lực khởi lập hội thánh thánh mới, quan sát xem sự phát triển của chúng có liên tục hay không và sau đó rời nó để thành lập một hội thánh mới ở nơi khác. Điều chắc chắn là thỉnh thoảng dây chuyền phát triển này đôi khi cũng bị phá đứt vì nhiều, nhiều hội thánh được khởi lập, tuy nhiên những lần đứt vỡ này không làm sự phát triển của phong trào chậm lại đáng kể.
Vùng xa xôi hẻo lánh Yanyin này khá xa các chủng viện Kinh Thánh hay các trường Kinh Thánh. Những cấm đoán của chính phủ ngăn cấm việc xây dựng bất kỳ một chủng viện địa phương nào. Thay vì đó các nhà chiến lược truyền giáo mô phỏng theo các khuôn mẫu huấn luyện trong Tân Ước. Khi một giáo sĩ huấn luyện thế hệ các giáo sĩ thứ nhất, vì giáo sĩ chắc chắn rằng họ huấn luyện một người khác. Vì thế, sự huấn luyện được thực hiện qua các mối quan hệ huấn luyện một-một. Mỗi một nhà lãnh đạo có hoài bão của hội thánh được yêu cầu phải vừa là một môn đồ vừa là một nhà môn đồ hóa theo một hệ thống dạy dỗ và được dạy dỗ về “những điều mà ta đã truyền dạy cho các ngươi” (Mathio 28:20). Bất cứ điều gì mà một mục sư bán chuyên học được ngày hôm nay, ông có có dạy dỗ nó cho một nhà lãnh đạo bán chuyên khác vào ngày kế tiếp. Điều này chính là một điển hình tối hậu về việc huấn luyện tại công trường mang tính chất quan trọng, tươi mới và “đúng thời điểm” cần phải được sử dụng.
Các yếu tố duy nhất
Mặc dù sự bắt bớ và cái chết có thể kèm theo sau việc ra giảng phúc âm trên khắp vùng Yanyin, không có những nỗ lực mang tính hệ thống nào từ phía chính quyền nhằm chặn đứng phong trào này . Điều này một phần có thể là do tính kín đáo của các hội thánh tế bào và sự vắng mặt của các hội thánh có ngôi nhà thờ mới.
Các tân tín hữu ngay lập tức được làm báp-tem và được dạy dỗ rằng việc đem những người khác đến với Đấng Christ và hướng dẫn họ trong việc thành lập các hội thánh mới là chuyện bình thường. Niềm tin “nhu cầu cao/hiểm họa cao” rằng những người mới tin sẽ là những người truyền giảng phúc âm và những người gây dựng hội thánh đóng góp một phần lớn vào sự phát triển nhanh chóng của phong trào.
Hoàn cảnh phi giáo phái của các hội thánh ở Trung Hoa có nghĩa là hội thánh không sử dụng một truyền thống mang tính giáo phái nào. Cần phải xác định xem có những biểu hiện nào của tà giáo len lỏi vào phong trào hay không. Tuy nhiên, tính tập trung hóa cao của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh ở Yanyin không cho phép một cá nhân đơn lẻ nào kiểm soát được cả tập thể. Trung tâm của giáo lý trong mỗi một hội thánh tế bào là lòng vâng phục đối với Kinh Thánh. Khi sự thờ phượng của hội thánh của hội thánh bao gồm việc học Kinh Thánh theo phương thức cùng tham gia với nhiều lãnh đạo, có một bằng chứng hiển nhiên trong nhóm cho thấy rằng có thể tồn tại sự giải thích sai lạc hoặc các thái cực của sự giải thích sai lạc.
Khi được hỏi về sự thiếu vắng dấu hiệu của giáo phái của phong trào, nhà điều phối chiến lược đã bình luận rằng, dù rằng chính phủ ngăn cấm những biểu hiện của giáo phái ở Trung Quốc, các hội thánh Yanyin mang tính chất Báp-tít nhiều hơn so với các hội thánh Báp-tít khác mà ông được biết đến. Ông tiên đoán trước rằng khuôn mẫu vâng phục đối với Kinh Thánh và sự thuận phục đối với chức thầy tế lễ của những nhà lãnh đạo bán chuyên sẽ duy trì được phong trào.
Các điểm học tập
1. Ngay từ đầu, việc truyền giảng được chỉ đạo bởi giới lãnh đạo bán chuyên và tập trung giữa vòng những người hư mất thay vì bên trong các ngôi đến thờ.
2. Nhiều người lãnh đạo không huởng lương đã đảm bảo cung cấp một số lượng các lãnh đạo không ngừng tăng cần để khởi sự các các công việc mới.
3. Khuôn mẫu hội thánh tư gia của phong trào Yanyin khá thích hợp với sự phát triển trong hoàn cảnh bắt bớ.
4. Bằng cách rút lui khỏi chức vụ trước khi nó trở nên đủ lớn để thu hút sự khảo sát cẩn thận của chính phủ, vị giáo sĩ đã giúp cho phong trào Yanyin tránh được sự hiện diện của sắc thái ngoại quốc trong một quốc gia được biết đến với tính dân tộc và tính bài ngoại của nó.
Bholdari của Ấn Độ
Hoàn cảnh
Bên trong đất nước Ấn Độ đông đúc, có một nhóm người mà chúng tôi gọi là Bholdari. Cái tên này có liên quan đến ngôn ngữ của họ, là ngôn ngữ được sử dụng bởi 90 triệu người sống ở 170.000 ngôi làng chạy ngang qua các tiểu bang của Ấn Độ. Số dân này bao gồm bốn đẳng cấp và các tiện dân không đẳng cấp. Đa số người thuộc nhóm người này cực kỳ nghèo đói, thất học và tồn tại dựa trên nền nông nghiệp tự túc và nền kinh tế trao đổi.
Khu vực này cũng là mái nhà nơi thánh của Ấn Độ và Brahmin, hay thầy tu, đẳng cấp được coi trọng giữa vòng tộc người Bholdari. Hơn 85 phần trăm dân số Bholdari là Ấn Độ Giáo, phần còn lại là Hồi Giáo hoặc vô thần. Trong khu vực này, còn có bốn thành phố lớn với hơn một triệu dân ở mỗi thành phố.
Sự tiếp xúc của các Cơ-đốc-nhân với những người này bắt đầu với chức vụ của William Carey và những người Báp-tít kế tục ông vào đầu thế kỷ XIX. Các giáo sĩ Dòng Tên của Công Giáo La Mã cũng bắt đầu làm việc cùng một thời điểm này. Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hàng ngàn người thuộc tầng lớp tiện dân đổ xô vào các Hội Thánh Công Giáo La Mã. Tuy nhiên, kể từ khi Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, sự phát triển của Công Giáo đã bình ổn ở mức một phần mười của một phần trăm số người cho là mình thuộc Công Giáo.
Công việc của Báp-tít đã nhận được tia sáng của sự sống từ các giáo sĩ Báp-tít người Thụy Điển vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Những giáo sĩ này đã thành công trong việc thành lập và nuôi dưỡng 28 hội thánh trong khu vực trước khi rời khỏi công trường này vào giữa thế kỷ XX. Công việc của Hội Thánh Báp-tít gặp phải một sự thất bại khá nặng nề các đội quân của Anh Quốc, lúc này đang tìm cách dập tắt phong trào độc lập dân tộc, đã đóng trại quân chiếm đóng của mình trong nhà của các tín hữu Báp-tít địa phương. Trong suốt nửa sau của thế kỷ XX, Cơ-đốc-giáo đã đạt đến đỉnh cao của nó và sau đó bắt đầu đi xuống. Cuối thập kỳ 1980, đã hơn 25 năm nhưng không hề có một hội thánh nào từ mở mang chính mình.
Điều đã xảy ra
Vào năm 1989, những tín hữu Báp-tít Nam phương đã sai phái một nhà điều phối chiến lược đến với tộc người Bholdari. Sau một năm học ngôn ngữ và tìm hiểu về nền văn hóa, vì giáo sĩ này đã phát động một chiến lược hành động thông qua một số hội thánh địa phương là những hội thánh đã nắm bắt được khải tượng của ông về các hội thánh mới. Ông thật kinh hoàng khi sáu nguời mở mang hội thánh mới người Ấn Độ đầu tiên, sử dụng các phương pháp thông thường đối với việc mở mang hội thánh trong một môi trường dễ dãi hơn ở miền Nam Ấn Độ, đã bị giết hại một cách dã man trong những lần khác nhau khi họ bắt đầu công tác truyền giáo của mình.
Tuy nhiên, năm 1992 phong trào đã đổi hướng khi nhà chiến lược truyền giáo đã áp dụng một phương pháp mới cho phong trào mở mang hội thánh. Dựa trên những dạy dỗ của Đức Chúa Giê-xu Christ trong Lu-ca đoạn 10, trong đó Đức Chúa Giê-xu Christ đã sai phái các môn đồ của mình ra đi theo từng cặp đến các làng thuộc miền Ga-li-lê và dạy bảo họ phải tìm gặp “người đáng tiếp rước mình”, những người mở mang hội thánh và truyền giáo Bholdari cũng bắt đầu làm như vậy. Trước khi mở miệng công bố phúc âm, mỗi giáo sĩ Bholdari đã chung sống với “người đáng tiếp rước mình” tại địa phương và bắt đầu môn đồ hóa gia đình này (thậm chí trước khi họ trở thành các tín hữu) để đưa họ vào trong đức tin Cơ-đốc bằng cách kể lại câu chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian. Khi những tân tín hữu đầu tiên này có đức tin, họ đã dẫn dắt gia đình mình đến với Đức Chúa Trời, làm phép báp-tem cho họ và đặt họ vào trong các trung tâm của các hội thánh mới ở mỗi làng.
Năm 1993, số lượng hội thánh đã phát triển từ 28 đến 36. Năm kế sau đó đã chứng kiến được 42 hội thánh nữa được thành lập. Một trung tâm huấn luyện đã đảm bảo nguồn cung cấp liên tục những nhà truyền giáo / những người mở mang hội thánh. Với cách này, các hội thánh đã bắt đầu tự mở mang. Năm 1996, số lượng hội thánh lên đến con số 547, và sau đó là 1.200 vào năm 1997. Năm 1998, có 200 hội thánh giữa vòng tộc người Bholdari. Trong vòng bảy năm, có hơn 55.000 người Bholdari đã đặt đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ.
Các yếu tố then chốt
Một số điểm quan trọng đã đánh dấu sự phát triển của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh này. Điểm đầu tiên là quyết định của nhà chiến lược truyền giáo nhằm thực nghiệm nhiều khuôn mẫu để xác định được hiệu quả tối ưu. Những sáng kiến đồng thời trong việc mở mang hội thánh đã được phát động thông qua các hội thánh Báp-tít hiện có tại địa phương, thông qua dự án hỗ trợ nhân đạo và thông qua mạng lưới của những người mở mang hội thánh truyền giáo tại địa phương.
Sau sáu tháng, nhà chiến lược đã cẩn thận đánh giá mỗi công việc. Một khi ông xác định được rằng những người mở mang hội thánh địa phương đã là những tác nhân có khả năng thành lập hội thánh tốt nhất, ông bắt đầu đầu tư nhiều thời gian và công tác huấn luyện đối với những người này.
Một bước then chốt thứ hai cần làm khi nhà chiến lược xác định và huấn luyện một giáo sĩ Ấn Độ nào đó để cùng làm việc với ông như là một nhà đồng điều phối chiến lược với mình trong phong trào này. Nhà điều phối chiến lược tóc vàng với khả năng ngôn ngữ hạn chế có thể sẽ kém thích hợp hơn cho việc đi lại khắp các tỉnh Bholdari so với một người Ấn Độ. Cả hai cùng nhau tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng năng động. Nhà chiến lược sống bên ngoài Ấn Độ và đi lại khá nhiều và phát triển một liên minh quốc tế rộng khắp để hỗ trợ cho chức vụ của mình. Nhà chiến lược Ấn Độ sống trong vòng khu vực này, thực hiện và điều phối mạng lưới liên tục phát triển về huấn luyện, chứng đạo và mở mang hội thánh.
Cũng giống như khi nhà chiến lược Ấn Độ đã có thể làm những việc và đi những nơi mà vị giáo sĩ không thể nào làm và đi đến được, thì nhà điều phối chiến lược cùng đã có thể thực hiện những chức vụ quan trọng là người cộng sự của ông sống trong phạm vi đất nước này không thể làm được. Những vai trò này bao gồm: phát triển chức vụ cầu nguyện rộng khắp trên toàn cầu; soạn thảo những tài liệu truyền giảng và khích lệ; tổ chức việc dịch thuật Kinh Thánh và các cuốn băng cassette; phát triển tài liệu huấn luyện và lãnh đạo; và thành lập các liên minh chiến lược với các nhà truyền giáo từ nhữhg vùng khác của Á Châu là những người đóng góp cho các chi phí của những người mở mang hội thánh Bholdari.
Trong nỗ lực hầu giảm thiểu hóa tình thể chế và sự phụ thuộc vào ngoại quốc, nhà điều phối chiến lược đã được toàn bộ các chương trình trong chức vụ tại Bholdari vào trong một thời khóa biểu với thời hạn hai năm. Sau hai năm, các nguồn ngân quĩ được thu hồi và toàn bộ công việc được tái đánh giá. Ngay cả các chương trình huấn luyện dành cho những người mở mang hội thánh cũng được tổ chức trong các cơ sớ vật chất được thuê và được tái bố trí lại sau mỗi hai năm một lần.
Các yếu tố duy nhất
Những gì đã khởi đầu như một phong trào Báp-tít thịnh hành đã phân rã thành nhiều liên minh trong những năm đầu tồn tại. Điều này một phần là do những hội thánh Báp-tít địa phương không có khả năng bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của phong trào.
Thay vì đổi huớng tập trung của mình từ việc mở mang hội thánh sang việc gây dựng giáo phái của mình, nhà điều phối chiến lược đã chọn các phương tiện khác nhằm hiệp nhất phong trào đang ù lì. Mối liên kết thông dụng giữa vòng tất cả các hội thánh là: niềm tin vào Kinh Thánh như là một thẩm quyền không thể chối cãi.
Một đặc tính khác trong Phong Trào Mở Mang Hội Thánh Bholdari là niềm tin của nhà điều phối chiến lược vào nguồn ngân quĩ từ bên ngoài hỗ trợ cho công việc của mình. Tuy nhiên, tiền bạc cũng có hạn chế của nó về mặt sử dụng. Nguồn ngân quĩ này được dùng để thành lập các trung tâm huấn luyện cho những người mở mang hội thánh và những mục sư bán chuyên, để hỗ trợ cho những người mở mang hội thánh trong công tác huấn luyện và để hỗ trợ cho các khoản chi phí của những nhà truyền giáo và những người mở mang hội thánh lưu động. Nó hỗ trợ khoản trợ cấp căn bản cho những người mở mang hội thánh khi họ thực hiện công việc của mình trong một vùng lành thổ thù nghịch nào đó. Khi các hội thánh đã được thành lập, thì các khoản trợ cấp cũng được ngưng. Không có khoản trợ cấp nào được cấp cho các mục sư địa phương. Thay vì đó, những mục sư này được huấn luyện trở nên những người lưỡng nghiệp. Nguồn ngân quĩ cũng không được dùng vào việc xây cất những ngôi đền thờ.
Sự phụ thuộc vào nguồn ngân quĩ từ bên ngoài để hỗ trợ cho nhà truyền giáo / những người mở mang hội thánh đã phát sinh ra nhiều thắc mắc về khả năng phát triển của phong trào theo sắc thái bản địa. Việc tránh được khoản phụ cấp cho các mục sư và khoảng trợ cấp cho việc xây cất các ngôi đền thờ đã và đang khích lệ cho tiến trình bản địa hóa, nhưng việc hỗ trợ tài chánh cho các giáo sĩ tại địa phương đã đem lại một mối quan tâm về một số lĩnh vực. Câu trả lời của nhà điều phối chiến lược là “toàn bộ các giáo sĩ, với đúng đặc tính của mình, phải nhận các khoản ngân quĩ từ bên ngoài. Những gì đúng với các giáo sĩ Phương Tây cũng đúng với các giáo sĩ Ấn Độ”. Có thể tìm thấy một dấu hiệu khá lạc quan trong cách mà các hội thánh địa phương nắm bắt được khải tượng về việc gây dựng các hội chúng mới. Tại một cuộc hội nghị hàng năm của các mục sư, cứ mỗi một trong 1.000 mục sư tham dự đã thuật rằng chính các hội thánh của họ đã đang khởi lập khoảng hai đến năm hội thánh mới.
Khởi đầu với gia đình của người đáng tiếp rước mình, tiếp sau đó là những người bà con dòng họ của gia đình và lan rộng ra khắp làng. Những những này được làm phép báp-tem chung với hộ gia đình của mình. Những thành viên nam của gia đình làm phép báp-tem cho gia đình hội thánh của họ và hướng dẫn hội chúng của hội thánh được thành lập.
Các điểm để học tập
1. Thất bại có thể là khởi đầu cho thành công, nếu chúng ta sẵn sàng rút tỉa bài học từ nó và không thối lui. Những nỗ lực đầu tiên trong phong trào mở mang hội thánh giữa vòng những người Bholdari đã dẫn đến hậu quả là sáu người đã tử đạo.
2. Kiểm nghiệm và đánh giá cẩn trọng có thể định hướng và duy trì sự tồn tại của phong trào.
3. Ở tầm mức đồ hóa giáo lý, hai vấn đề đã tạo nên thực tiễn của các tín hữu Bholdari. Mỗi vấn đề đức tin và thực tiễn được thỏa ứng bởi:
a. những gì đem vinh hiển cho Đấng Christ trong hoàn cảnh này và
b. những gì Lời Chúa tỏ bày
4. Sự kể chuyện Kinh Thánh theo thứ tự thời gian và các cuốn băng cassettee Kinh Thánh đã giúp cho Lời Chúa trở nên sức mạnh trung tâm ngay cả giữa vòng một nhóm người chủ yếu là thất học nào đó.
Khme của Campuchia
Hoàn cảnh
Thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều hơn phần của nó về các cuộc chiến tranh, các nhà độc tài và sự diệt chủng, nhưng ít có những sư kiện nào bi ai hơn lịch sữ hiện đại đầy bi kịch của Campuchia. Bị vùi dập bởi cuộc chiến tranh Việt Nam trong hơn hai thập kỷ, Campuchia đã thoát khỏi cuộc chiến tranh này và rơi vào tay của nhà độc tài Mao Pôn Pốt là kẻ đã đưa đất nước vào chỗ diệt vong. Trong năm năm cầm quyền của mình từ 1975 đến 1979, Khme đỏ của Pôn Pốt đã mang lại sự chết chóc, hủy diệt và đói nghèo cho 3,3 triệu dân của đất nước có 8 triệu dân này.
Sự cai trị của kẻ khủng bố này đã để lại cho Campuchia một cơ sở hạ tầng trong đổ nát, số dân nam trưởng thành tiêu hao và số thanh niên thất học. Sự cai trị sau đó của một chính phủ được xắp xếp bởi Việt nam đã ngừng được nạn diệt chủng nhưng không thể nào phục hồi lại những thiệt hại đã gây nên cho xã hội Campuchia.
Cuộc biến động xã hội đã mở màn cho những thay đổi sắp xảy ra. Sự ảnh hưởng hàng mấy thế kỷ của Phật giáo đã bị ngấm ngầm phá hoại bởi lý tưởng cộng sản. Công giáo La Mã, sau khi đã ổn định được chỗ đứng của mình trong quốc gia này, đã là mục tiêu của Khme Đỏ vì các mối quan hệ của nó với Vatican và Pháp. Vào đầu thế kỷ này, các giáo sĩ từ Hiệp Hội Giáo Sĩ và Cơ-đốc-nhân và Hiệp Hội Giáo Sĩ Hải Ngoại đã giới thiệu Tin Lành vào đất nước này, nhưng số tín hữu của họ chưa bao giờ vượt quá 5.000. Trong suốt thời gian cai trị của Pôn Pốt, Khme Đỏ đã gây cho họ cực kỳ khó khăn, trục xuất các giáo sĩ và giết rất nhiều chiên trong đàn vốn đã bị tản lạc. Năm 1990, số tín hữu tin lành của Campuchia đã hao mòn và chỉ còn lại khoảng 600 tín hữu.
Điều đã xảy ra
Theo một giáo sĩ lâu năm phục vụ Chúa tại Campuchia hàng nhiều thập kỷ trong Hiệp Hội Giáo Sĩ Hải Ngoại, bước ngoặc cho Cơ-đốc-giáo ở quốc gia này bắt đầu vào năm 1990. Trước năm 1999, số tín hữu Tin Lành đã tăng từ 600 đến hơn 60.000. Số lượng tín hũu đông đảo nhất của Báp-tít với 10.000 thành viên, kế sau là một giáo phái Campus Crusade của bản địa, tiếp đó là Hiệp Hội Các Giáo Sĩ và Các Cơ-đốc-nhân và một số các nhóm khác.
Tác nhân đầu tiên gây ra sự thay đổi đã xảy ra vào tháng Mười Hai năm 1989, khi các tín hữu Báp-tít Nam Phương đã sai phái một nhà điều phối chiến lược đến với dân tộc Khme. Năm 1991, ông đã hoàn thành việc học ngôn ngữ và đã bắt đầu thực hiện chiến lược để cứu dân tộc Khme.
Thay vì tự mình thành lập một hội thánh, như thường lệ của mình trước đây, vị giáo sĩ này đã bắt đầu thiết lập mối quan hệ huấn luyện của mình với những người bán chuyên Campuchia. Trong vòng một năm, ông đã mời gọi được 6 người mở mang hội thánh người Campuchia vào trong chu kỳ huấn luyện của mình. Mấy tháng sau, ông đã viết một cẩm nang mở mang hội thánh mới bằng ngôn ngữ Khme và dạy dỗ những người mở mang hội thánh người Khme về giáo lý, sự chứng đạo và kỹ năng mở mang hội thánh với các nguồn tài liệu như phim Giê-xu, việc kể chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian và việc phát triển hội thánh tư gia đơn giản. Ông cũng làm họ thấm nhuần với khải tượng và lòng nóng cháy mong ước cứu toàn bộ quốc gia của họ bằng Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
Năm 1993, số lượng hội thánh Báp-tít đã tăng từ sáu đến mười. Năm sau đó, con số này đã tăng lên gấp đôi đến 20. Năm 1995, khi số lượng hội thánh đạt được 43, các nhà lãnh đạo hội thánh của Campuchia đã thành lập một hiệp hội của những hội thánh có cùng tâm tình, và họ gọi tên là Hiệp Hội Báp-Tít Khme (và sau đó được đổi tên là Hiệp Hội Báp-Tít Campuchia). Năm sau, số lượng hội thánh đã lên đến 78. Năm 1997, đã có 124 hội thánh Báp-tít rải rác khắp 53 trong số 117 huyện của quốc gia này. Vào mùa xuân năm 1999, các tín hữu Báp-tít đã thống kê được hơn 200 hội thánh và 10.000 thành viên. Một ít trong số các hội thánh này đã nhóm lại trong các tòa đền thờ được cung hiến. Đại đa số nhóm lại trong các ngôi nhà mà ở vùng nông thôn, nó có thể chứa được 50 người hoặc nhiều hơn.
Nhà điều phối chiến lược đã rời công việc của mình năm 1996, để lại một đội nhỏ các giáo sĩ và một hệ thống quan trọng có khả các hội thánh mở mang các hội thánh khác rải rác trên phần lớn của đất nước này. Công việc đã tiếp tục phát triển và cũng cố.
Các yếu tố then chốt
Trong bài tường thuật của mình về lý do vì sao Phong Trào Mở Mang Hội Thánh đã xảy ra, nhà điều phối chiến lược đã nêu ra một số những yếu tố then chốt. Ông viết: “Trong vòng sáu năm, dân tộc Campuchia đã được khích lệ và đã cầu nguyện thiết tha hơn so với bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử của họ”. Vị giáo sĩ tin rằng sự cầu nguyện này sẽ bảo vệ những người mở mang hội thánh và mở lòng của những người Khme bị hư mất để họ tiếp nhận tin lành của Đức Chúa Giê-xu Christ.
Sự cầu nguyện cũng là đặc tính của đời sống của những thành viên mới của hội thánh, trang bị họ với ý thức mạnh mẽ về sự can thiệp trực tiếp của Đức Chúa Trời trong các sự kiện hàng ngày của họ. Các dấu kỳ phép lạ, chẳng hạn như những lần đuổi ma quỉ, những lần chữa lành và những công việc khác trong trận chiến thuộc linh, tiếp tục trở nên thường lệ giữa vòng những tín hữu Campuchia.
Việc huấn luyện đã và đang là một yếu tố căn bản trong phong trào ngay từ lúc mới hình thành. Nhà điều phối chiến lược đã thành lập Các Chuơng Trình Huấn Luyện Lãnh Đạo Nông Thôn (RLTPs) khi có thể được. Những trung tâm cho việc mở mang hội thánh và giáo dục thần học hàm thụ đã ngày càng trở nên thực tiễn hơn. Họ nhóm lại trong càc cơ sở vật chất ở gần khu vực mà họ hy vọng là sẽ mở mang các hội thánh và dựa vào sự hỗ trợ hậu cần từ những hội thánh lân cận. Việc huấn luyện được cung cấp dưới dạng tám đơn vị giáo trình, mỗi đơn vị trong hai tuần, giúp cho lãnh đạo hội thánh tiêp tục cả công việc chăn bầy và cả cuộc sống trần tục của mình trong khi đó vẫn được huấn luyện theo nhu cầu.
Nhà điều phối chiến lược cũng khẳng định rằng việc mô phỏng và huấn luyện là giá trị cốt lõi của phong trào. Bằng cách trích dẫn từ nhữhg sự dạy dỗ của Phao-lô trong IITimothe 2:2, nhà điều phối chiến lược đã triển khai cái mà ông gọi là “Nguyên tắc 222”: Đừng một mình làm bất cứ điều gì . Theo cách này, khải tượng, các tài năng, các giá trị và các nguyên tắc được truyền từ tín hữu này sang tín hữu khác.
Khi phong trào nổ ra, đà phát triển của phong trào được hun đúc từ chính bên trong. Các nhà lãnh đạo địa phương bày tỏ khải tượng của chính mình đối với việc mở mang các hội thánh ở tại mọi huyện và trong vòng mỗi cộng đồng sắc tộc. Khi nhận được sự huấn luyện và khích lệ, những người đầu tiên mở mang hội thánh chính là thành viên của hội thánh, thay vì là những giáo sĩ hoặc những người mở mang hội thánh chuyên nghiệp. Sau đó, nhà điều phối đã nhận thấy rằng “các hội thánh được thành lập bởi những hội thánh khác có khả năng phát triển, nhưng những hội thánh nào được thành lập bởi những người mở mang hội thánh được trả lương thì không (với một ít ngoại lệ).”
Để đảm bảo tính bản địa hóa và giới hạn sự phụ thuộc vào những người bên ngoài, vì giáo sĩ đã áp dụng những giới hạn về thời gian cho việc thành lập một hội thánh mới. Điều này cũng đã làm cho phong trào thấm nhuần đặc tính của sự phát triển nhanh chóng.
Với sự ra đi của nhà điều phối chiến lược vào năm 1996, phong trào trào đã bước vào một giai đoạn mới. Đội giáo sĩ IMB còn lại ở quốc gia này dã hỗ trợ phong trào bằng cách đóng vai trò xúc tác thay vì vai trò quyết đoán nổi bật. Một thành viên của đội đã thổ lộ điều này?
Các yếu tố duy nhất
Dù không phải hoàn toàn là duy nhất, vẫn bổ ích khi Hiệp Hội Báp-Tít Campuchia đã nhanh chóng áp dụng những mục tiêu đầy hoài bão của họ để thành lập hiệp hội các hội thánh. Họ cùng khích lệ nhau truyền bá phúc âm trên khắp đất nước và mở mang hội thánh ở mọi quận huyện. Lòng nóng cháy truyền giảng và mở mang hội thánh đã ảnh hưởng đến việc chọn lựa hàng ngũ lãnh đạo của hiệp hội. Người ta tìm kiếm những người nào đã tự chính mình mở mang hội thánh và đã phục vụ như là những người hướng dẫn những người mở mang hội thánh khác trong Các Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn. Trong vòng các hội thánh Báp-tít một mô hình độc nhất đã xuất hiện, là mô hình pha trộn đặc tính của Tân Ước với những hình thức của các truyền thống cộng sản. Mỗi một hội thánh mới được tổ chức xung quanh một thành phần cốt lõi bao gồm bảy nhà lãnh đạo bán chuyên (xem Cong Vu 6:3, là đoạn mô tả về việc chọn lựa bảy chấp sự). Tuy nhiên, thuật ngữ mà họ dùng để gọi thành phần cốt lõi gồm bảy thành viên này không phải là các chấp sự, mà là “Ủy Ban Trung Ương”. Ủy Ban Trung Ương này chỉ đạo các cuộc truyền giảng đến với cộng đồng, bao gồm việc chứng đạo, ấn phẩm, sự thờ phượng, dạy dỗ các mục sư và những chăm sóc đối với phụ nữ, thanh niên và nam giới.
Khi Phong Trào Mở Mang Hội Thánh tiến bộ, nó trở nên rõ ràng rằng Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của nó. Sau này, một giáo sĩ đã thấy rằng “Nơi nào có các Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn, thì nơi đó hội thánh được mở mang”. Với tư tưởng này, vị giáo sĩ đã đầu tư khá nhiều và việc tổ chức và phát triển các tài liệu huấn luyện cũng như tăng sự trợ cấp cho các Chương Trình Huấn Luyện Đội Ngũ Lãnh Đạo Nông Thôn từ các hội thánh ở Châu Á.
Các điểm để học tập
1. Trong một thời gian ngắn sau khi nhà điều phối chiến lược được sai phái đến Campuchia, hơn 30 tổ chức truyền giáo đã vào trong quốc gia này. Không một tổ chức nào trong các tổ chức này thấy được sự thành công của việc mở mang hội thánh với nỗ lực của IMB, chủ yếu là không ý định chiến lược trong việc mở mang hội thánh.
2. Vị giáo sĩ đã tránh được bước “chuyền bó đuốc” tới các tín hữu Campuchia bằng các khởi xướng phong trào với bó đuốc cầm chặt trong tay của họ. Ông đã đảm bảo rằng mọi hội thánh phải được thành lập bởi nhũng người Campuchia.
3. “Nguyên Tắc 222” (IITimothe 2:2) về việc mô phỏng và huấn luyện đã chứng mình là một phương tiện vô giá cho việc huấn luyện các lãnh cho Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.
4. Hiệp Hội Báp-tít Campuchia đã và đang sử dụng các đặc tính và khải tượng của Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các nhà lãnh đạo được chọn lựa theo khả năng đóng góp của họ vào khải tượng này.
Các Phong Trào Nổi Bật Khác
Khi chúng ta nhìn vòng quan thế giới, chúng ta thấy các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khác đang nổi lên. Các dấu hiệu khích lệ đang xuất hiện giữa vòng nhừng người Maasai của Tanzania và Kenya. Chính khả năng bất tiếp cận các miền đất hoang mạc lởm chởm của miền Bình Nguyên Maasai đã hạn chế các giáo sĩ tiếp cận các miền đất này. Việc hỗ trợ sự xây cất các ngôi đền thờ và việc trợ cấp cho các mục sư chẳng có ý nghĩa lớn lao gì cho những người bán du mục với nền kinh tế hoán vật này. Khi xâm nhập vào vùng đất cấm này, các giáo sĩ IMB đã đem phúc âm đến với Maasai, nhấn mạnh chủ yếu vào việc huấn luyện những người mở mang hội thánh và các lãnh đạo hội thánh tại Maasai.
Kết quả đạt được là sự phát triển nhanh chóng của hội thánh giữa vòng những người Maasai. Sự thờ phượng đầy dẫy những biểu hiện của sự kính sợ vào quyền năng khi những người Maasai đã trông nhìn nơi Đức Chúa Trời với lòng mong mỏi nhận được sự chữa lành và những hướng dẫn về mặt cá nhân. Sự kể chuyện Kinh Thánh theo trình tự thời gian đã phát triển một cách tự nhiên thành những bài hát của những người Maasai về những câu chuyện Kinh Thánh. Những nhóm tự phát bao gồm những người nam và người nữ Maasai hình thành nên những ca đoàn để hát xướng về những câu chuyện tuyệt vời trong Cựu và Tân Ước. Vì những người Maasai kèm theo lời hát của mình với với những biến đổi theo phương thẳng đứng vào không trung, thì có ít nghi ngờ rằng Phong Trào Mở Mang Hội Thánh Maasai đã bén rễ sâu và thực sự mang tính bản địa.
Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh khác cũng đang nổi lên vài tháng một lần: 30.000 tín hữu ở một quốc gia vùng Đông Nam Á, 100.000 tín hữu đã mở mang 800 hội thánh mới ở miền đông Ấn Độ; 20.000 người đã đến với Đấng Christ trong giai đoạn bốn năm ở một tỉnh ở Trung Quốc; số lượng hội thánh được thành lập tăng lên gấp đôi trong vòng sáu tháng ở quốc gia Tây Âu; 383 hội thánh được thành lập chỉ trong vòng một tiểu bang của Brazil.
Các giáo sĩ đang chia sẻ những báo cáo này với nhau - và cho nhau biết phương tiện mà Đức Chúa Trời dùng để làm nên những công việc diệu kỳ này. Đức Chúa Trời đang làm một điều rất kỳ diệu. Chúng hãy quan sát xem những gì mà chúng ta đã và đang học được từ những công việc lạ lùng của Đức Chúa Trời trên khắp thế giới.
Barnabas
- Nguyên Tắc Giảng Dạy (1)
- Nghệ Thuật Chăn Bầy
- Tiến hóa hay Sáng tạo?
- Năng Quyền Do Cầu Nguyện (1)
- Sống để ban cho
- Giao ước Lausanne
- Cầu Nguyện Theo Yongi Cho (3)
- Cách Cầu Nguyện Theo Tấn Sỉ Paul Yongi Cho (2)
- Cách Cầu Nguyện Theo Tấn Sỉ Paul Yongi Cho
- Công Tác Truyền Giáo và Mùa Gặt (II)

































