Nguon Hy Vong



Nguyên Tắc Giảng Dạy (1)

Email
  
Print
Share

PHẦN THỨ NHẤT
Các Mục Tiêu Của Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục


PHẦN THỨ HAI
Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục Phải Biết Gì

PHẦN THỨ BA
Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục Phải Làm Gì

PHẦN THỨ TƯ
Các Nguyên Tắc Giảng Dạy Và Học Tập
Người Giáo Viên Cơ Đốc Giáo Dục Cần Nắm Vững


MỤC TIÊU CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC

Bảy trăm người Bên-gia-min thuận tay trái nhờ thường xuyên luyện tập đã tập thành một cách hoàn hảo việc sử dụng phối hợp tay và mắt trong việc sử dụng trành ném đá đến mức “dùng trành ném đá trúng một sợi tóc mà chẳng hề sai trật”. Việc ném đá tài tình như vậy không có nhiều. Người ta thực ra họ đã phải khổ luyện cho mắt ngắm thật chính xác và tay ném thật thẳng cho đến mức hoàn hảo. Người giáo viên trường Chúa Nhật cũng cần phải có một mục tiêu rõ ràng cho việc giảng dạy của mình để nhắm đến.


A. HƯỚNG DẪN SAO CHO MỌI HỌC VIÊN ĐỀU TIẾP NHẬN CHÚA CỨU THẾ
1. Vạch rõ con đường cứu rỗi.
a. Thừa nhận vấn đề tội lỗi.
b. Nhận thực rằng Chúa Cứu Thế Jêsus đã chết thay cho tội nhân.
c. Tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jêsus làm Cứu Chúa của đời sống mình.
2. Cầu nguyện thiết tha cho từng học viên của mình.
3. Nài mời một cách khéo léo để học viên có quyết định dứt khoát tiếp nhận Chúa. Cần nên để cho học viên có một quyết định tự nguyện, đừng thúc ép, không giả tạo.

B.CHUẨN BỊ VÀ ĐÀO TẠO CHO MỌI HỌC VIÊN ĐỀU BIẾT SỐNG VÀ LÀM VIỆC CHO ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Có hiểu biết về Lời Đức Chúa Trời
2. Có thói quen cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày.
3. Biết luôn luôn vâng theo Lời Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh.
4. Có sự trung tín trong sự làm chứng cho Chúa Cứu Thế và cho sự hầu việc Ngài.


NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC PHẢI BIẾT GÌ?

Người giáo viên Cơ đốc giáo dục trước hết phải là người học viên. Tâm tình của người giáo viên phải là “Chúa ơi, xin ban cho con một lớp học Trường Chúa Nhật, không phải vì con đã biết đủ nhiều mà vì con cần học hỏi nhiều hơn”. Điều quan trọng là người giáo viên phải nhận chân được tầm quan trọng của nhiệm vụ mình hầu tự tu dưỡng rèn luyện để được xứng hiệp với vai trò của mình. Điều ấy có liên quan đến sự rèn luyện bản thân.

Thép 8 có thể dùng làm trục xe, nhưng một thỏi thép 8# không phải là một cái trục xe. Muốn trở thành cái trục xe thì thỏi thép ấy phải được tạo hình, tiện gờ, tinh chế,... Chúa có thể sử dụng những người được huấn luyện kỹ lưỡng thuận lợi hơn những ai không được và không chịu huấn luyện.

1. Về Kinh Thánh.
Mọi công việc mang tính chuyên nghiệp đều đòi hỏi sự đào tạo. Không ai có thể dạy về phân số hay về hệ thống thập phân mà chính mình lại không nắm vững về số học trước. Để có thể dạy tốt một phần Kinh Thánh, phải quen thuộc với toàn bộ Kinh Thánh trước.

2. Về các bộ môn hổ trợ.
a. Địa lý Kinh Thánh: Phải định vị cho được núi, sông, thành, làng, ...được đề cập trong các câu chuyện sẽ giảng dạy.
b. Lịch sử Kinh Thánh: Phải biết về lịch sử của Kinh Thánh, lịch sử của các xứ trong Kinh Thánh xưa và nay. Phải biết vận dụng các sự kiện học biết được qua môn lịch sử ở trường phổ thông có liên quan đến các nhân vật Kinh Thánh.
c. Phong tục Kinh Thánh: Những hiểu biết về cuộc sống và phong tục của các dân tộc được đề cập trong Kinh Thánh sẽ giúp cho các câu chuyện giảng dạy và bối cảnh của nó được sáng tỏ và sinh động.
3. Về giáo học pháp bô môn.
a. Sư phạm: Để nắm vững nghệ thuật giảng dạy.
b. Giáo dục học nhi đồng: Để nắm vững về tâm sinh lý lứa tuổi nhi đồng và bản chất chung của con người.
c. Quản trị học đường: Để nắm vững về điều hành trường học.



NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC
PHẢI LÀM GÌ

Sau đây là một số điểm cơ bản mang tính nguyên tắc cho một người giáo viên Cơ đốc giáo dục tuân thủ để có thể thực hiện việc giảng dạy có hiệu quả:
1. Phải giữ cho thể trạng cân bằng.
2. Phải giữ cho trí tuệ sáng suốt.
3. Phải có sự tăng trưởng thuộc linh.
4. Phải có lịch học tập cho mình:
a. Lập thời biểu cho từng tuần.
b. Tự biệt mình ra để học cho khỏi bị làm gián đoạn.
5. Phải định rõ đề tài học:
a. Tâp chú trên đề tài sẽ dạy tiếp theo.
b. Tập chú vào nhu cần của học viên.
6. Phải có sự tiếp xúc sâu sát với học viên ngoài giờ học:
a. Phải tiếp xúc cho được những người đã vắng học buổi vừa qua.
b. Tiếp xúc bằng cách thăm viếng tận nhà.
c. Thỉnh thoảng nên tổ chức sinh hoạt dã ngoại, hoặc bữa ăn thông công.
d. Phải cầu nguyện cho học viên mỗi ngày.
7. Phải bảo đảm về giờ giấc và nền nếp:
a. Đến lớp đúng giờ.
b. Tránh bỏ dạy. Nếu phải vắng trong trường hợp bất khả kháng, phải bố trí dạy thay.
c. Luôn luôn chuẩn bị bài chu đáo.
8. Phải giữ cho việc phục sức của mình phù hợp với lớp học theo lệ thường.

Sự thành công của người giáo viên phụ thuộc vào sự nhiệt tình với phận sự, vào lòng yêu thương học viên, vào sự nhuần nhuyễn và chu đáo của sự cầu nguyện và chuẩn bị, và vào ý thức tự điều chỉnh cho đúng theo các nguyên tắc sư phạm được biết.



CÁC NGUYÊN TẮC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP NGƯỜI GIÁO VIÊN CƠ ĐỐC GIÁO DỤC CẦN NẮM VỮNG

I.NGUYÊN TẮC VỀ GIÁO VIÊN
Người giáo viên phải biết mình sẽ dạy gì.

Để có thể nắm vững đề tài giảng dạy, người giáo viên phải dành thì giờ nghiên cứu nhằm thủ đắc đủ kiến thức cho việc giảng dạy đề tài. Nguyên tắc chuẩn bị bài dạy như sau:
1. Nghiên cứu bài học sẽ dạy.
a. Quỹ tài liệu:
i. Ưu tiên hàng đầu là Kinh Thánh.
ii. Bài học theo quí (tam cá nguyệt).
iii. Các nguồn tham khảo:
- Thánh Kinh Tự điển
- Bản đồ Kinh Thánh.
- Thánh Kinh Phù dẫn
- Thánh Kinh Khảo học
b. Quỹ thời gian:
i. Phải chuẩn bị cho có một tầm xa (hành lang an toàn rộng).
ii. Ngay chiều Chúa Nhật trước đã bắt đầu nghiên cứu bài học cho Chúa Nhật tiếp theo.
iii. Nghiên cứu mỗi ngày.
2. Soạn giáo án.
a. Phù hợp theo độ tuổi.
b. Với sự biết chăc về nhu cần tâm sinh lý của học viên.
c. Xác định yêu cầu chung cho bài học.
d. Vạch rõ yêu cầu cụ thể trên từng phương diện:
- Về kiến thức: Học viên cần biết gì.
- Về tư tưởng, tình cảm: Học viên cần nghĩ gì.
- Về kỹ năng: Học viên cần làm gì.
3. Sưu tập tài liệu giảng dạy.
a. Theo cá nhân:
- Các mẫu tin tức liên quan.
- Các tranh ảnh, đặc biệt là tranh màu.
- Chế tác tranh dùng cho bảng nỉ.
- Tìm bài học cảnh báo hoặc cảnh cáo.
- Bản đồ.
- Phấn màu.
b. Theo sự hiệp tác: Có thể thảo luận, bàn bạc xin các giáo viên khác góp ý kiến để giúp hình thành ý đồ giảng dạy
4. Chọn phương pháp trình bày bài dạy.
a. Các phương pháp chính:
- Phương pháp kể chuyện.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp diễn giảng.
- Phương pháp dự án (tài liệu sư phạm cũ gọi là đồ án ).
- Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp truyền thụ.
b. Chọn phương pháp cho phù hợp độ tuổi học viên. Chú ý khai thác tính đa dạng và phong phú của các phương pháp.
i. Đối với thiếu nhi:
- Phương pháp kể chuyện.
- Phương pháp dùng bảng nỉ.
ii. Đối với thanh_thiếu niên.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp dự án.
- Phương pháp vấn đáp.
- Phương pháp nghiên cứu.
iii. Đối với trung-tráng niên (người lớn nói chung).

- Phương pháp diễn giảng.
- Phương pháp thảo luận.
5. Soạn các bước lên lớp.
Một giáo án đạt yêu cầu phải tuân thủ đúng theo trình tự bài dạy với các phân bố thời gian thỏa đáng và đầy đủ các hướng dẫn, ghi chú cần thiết cho sự thao tác trên lớp học của người giáo viên bắt đầu từ phần giới thiệu bài học cho đến phần áp dụng bài học, kết thúc, dặn dò,... Đừng dựa hoàn toàn vào trí nhớ mà phải viết giáo án ra dưới dạng đề cương.

II. NGUYÊN TẮC VỀ HỌC VIÊN
Học viên phải tập trung chú ý vào bài học
với sự ham thích
1. Thế nào là sự chú ý?
a. Im lặng không chắc đã là chú ý.
b. Nhìn thẳng vào giáo viên không chắc đã là chú ý.
c. Chỉ lắng nghe không thôi thì chưa phải là chú ý.
d. Lễ độ với giáo viên không chắc đã là chú ý.
e. Sự chú ý là sự huy động tâm trí vào một chủ đề với tâm thế muốn lĩnh hội, muốn thâu suốt, và muốn vận dụng nó. Sự chú ý đến theo sự ham thích.
2. Phân loại sự chú ý.
a. Sự chú ý tự động.
Sự chú ý tự động là sự chú ý được thực hiện bởi bán cầu đại não mà không cần có sự can thiệp của ý chí. Đây là loại chú ý được điều khiển bởi sự đáp ứng của cảm giác một cách vô ý thức đối với các sự vật đem lại sự thú vị hoặc sự đau đớn. Não bộ thường được tươi tĩnh theo sự chú ý này chứ không bị mỏi mệt vì nó được đáp ứng đúng theo những gì nó muốn cảm thụ.
b. Sự chú ý cố ý (cũng gọi là sự chú ý có cố gắng).
Sự chú ý cố ý là một loại chú ý theo năng lực của ý chí. Loại chú ý này phát triển thấp ở trẻ dưới 12 tuổi. Sự chú ý cố ý là sự chú ý mà chúng ta vốn thường vận dụng lúc bắt đầu các sự luyện tập. Sự tồn tại của sự chú ý cố ý ở não bộ khá ngắn.

Phần lớn các tiết học trên lớp đều phải khởi đầu với sự chú ý cố ý. Để não bộ hoạt động tốt trong việc học tập, sự chú ý cần có phải là sự chú ý tự động (là kết quả của cảm thức quan tâm). Người giáo viên phải có cách kết nối đề tài giảng dạy với các lạc điểm của học viên để sớm chuyển đổi từ sự chú ý cố ý sang sự chú ý tự động.
3. Giá trị đối với sự giảng dạy.
Sự chú ý là yếu tố then chốt đối với việc học tập. Nếu nhận thấy học viên mất chú ý đối với đề tài, việc mà người giáo viên phải làm ngay là tác động lập tức trên sự chú ý của học viên. Hoặc bằng cách tác động trực tiếp trên sự chú ý tự động, hoặc tác động gián tiếp qua sự chú ý cố ý. Sự chú ý là công cụ ghi nhớ, người giáo viên phải luôn luôn biết đặt tâm trí của học viên tại điều mình đang truyền đạt.
4. Để bảo đảm cho sự chú ý.
a. Không tác động trên sự chú ý bằng cách gây sợ hãi hoặc
bằng mệnh lệnh.
b. Bằng cách lượng định trước các sự xao lãng có thể có là gì? (sức nóng, ánh sáng, cảnh quan phản sư phạm, tiếng ồn,...), người giáo viên có thể sắp xếp các học viên trong lớp theo cách thế phù hợp. Thông thường thì lớp được bố trí sao cho giáo viên phải nhìn được mặt học viên dễ nhất, thẳng nhất, rõ nhất. Các học viên cũng cần được sắp đặt cách nào có thể dễ nhìn mặt nhau. Lớp phải tránh hướng về phía có yếu tố làm cho xao lãng. Phải chọn chỗ ngồi phù hợp cho các học viên hay làm ồn.
c. Vận dụng tính hiếu kỳ (tò mò) của học viên để:
- Cuốn hút sự chú ý của mắt vào tranh ảnh, minh họa, trợ huấn cụ, tranh nỉ,...
- Cuốn hút sự chú ý của tai vào các tình tiết của chuyện kể, minh họa, câu hỏi, sự cảm thán bằng lời,...
d. Khám phá những lạc điểm nội tại của bài học nào có thể liên kết được với các lạc điểm trong tâm lý chung của học viên.
e. Thường để ý thăm dò về sự chú ý của học viên. Phải chắc chắn là tài liệu đã được chuẩn bị chu đáo; phải nhiệt tình; hãy nói theo cách thế đối thoại (tránh độc thoại); nói bằng nhiệt tâm; nói với sự êm dịu nhỏ nhẹ thỏa đáng.
5. Một số các lạc điểm có tính bản năng.
- Sự quan tâm đối với sự mạo hiểm và sự lãng mạn.
- Sự quan tâm đối với sự hành động, con người, thú vật.
- Ước muốn được có sự chấp nhận xã hội.
- Sự quan tâm đối với thi ca.
- Sự hiếu kỳ, sự ngạc nhiên, sự quan tâm đối với câu đố, bài toán hóc búa.
- Sự quan tâm đối với sự truyền đạt và được diễn đạt.
- Sự vận động tay chân và các hoạt động thể lý chung chung.
- Sở thích sưu tập.
- Sở thích làm kịch tự biên tự diễn.
- Trò chơi.

III. NGUYÊN TẮC VỀ NGÔN NGỮ (của cá nhân, phân biệt với ngôn ngữ của một cộng đồng người).
Ngôn ngữ sử dụng trong giảng dạy phải tương đồng cho cả người dạy và người học.

1. Thường xuyên nghiên cứu, học hỏi ngữ ngôn của học viên.
2. Nói bằng ngữ ngôn của học viên càng có thể càng tốt.
3. Diễn đạt ý tưởng ngắn gọn nhất, ít ngôn từ nhất.
(Hãy chú ý cách trước thuật trong LuLc 11:1-4, ngắn gọn nhưng có đủ các yếu tố về thờ phượng, tôn vinh, xưng nhận, và cầu xin).
4. Dùng câu có cấu trúc đơn.
5. Giải thích bằng minh họa qua tranh ảnh, vật thât, nét vẽ, và biểu đồ trên bảng. Phải chắc là sự giải thích của mình được hiểu đúng. Phải để ý giải thích sao cho học viên ở mức thấp nhất cũng hiểu được.
6. Thường có biện pháp kiểm tra sức hiểu từ liệu của học viên.
7. Nói một cách dễ nghe và dễ hiểu.
8. Một khi học viên có thể kể lại câu chuyện theo ngữ ngôn riêng của mình thì đó là dấu hiệu cho thấy rằng học viên hiểu được giáo viên.

IV. NGUYÊN TẮC VỀ BÀI HỌC
Lẽ thật được dạy phải suy hiểu được từ lẽ thật đã được học biết rồi.(Cũng còn gọi là “nguyên tắc nhận thức”: Dạy điều chưa biết nhờ điều đã biết)
1. Chúa chúng ta đã vận dụng nguyên tắc này.
Ngài thường dạy những lẽ thật Tân Ước rút từ những lẽ thật Cựu Ước : GiGa 3:14; LuLc 11:29-32; 17:26-30 ...
Ngài dạy những lẽ thật thuộc linh có liên quan đến Ngài bằng cách so sánh với những sự vật quen thuộc: Nước, Người Chăn Chiên, Cái Cửa, Anh Sáng,...
2. Cách thế vận dụng.
a. Xác định những điều chưa biết của học viên bằng:
- Dành thời gian để gần gũi, nói chuyện, chơi với họ.
- Đến gia đình họ để thăm viếng.
- Khuyên bảo riêng.
b. Khởi sự (việc giảng dạy) từ những diểm học viên đã thấy hoặc đã biết rồi. Thường thường là khởi sự với việc ôn tập hoặc kiểm tra bài cũ.
c. Xác định những điều chưa biết.
- Về mặt sự kiện.
Liệt kê những điều trong bài học mà có thể là học viên chưa biết, từ đó chuẩn bị việc giảng giải cho thích hợp.
- Về mặt thuộc linh.
Liệt kê những lẽ thật thuộc linh mà học viên chưa hiểu được, từ đó vạch mục tiêu cần thiết cho bài học.
d. Tiến hành từng bước theo phương pháp so sánh để đi từ nhữngđiều đã biết đến những điều chưa biết.
- Vận dụng (cũng là lợi dụng) các câu chuyện kể.
- Vận dụng sự minh họa hoặc tranh vẽ chiết tự.
- Vận dụng tranh vẽ hoặc vật thật.
- Vận dụng phép so sánh.
Nên luôn luôn nhớ rằng sự minh họa như những chiếc cửa sổ cho ánh sáng soi rọi vào phòng.

V. NGUYÊN TẮC VỀ TIẾN TRÌNH GIẢNG DẠY
Giáo viên phải điều động hoạt động tư duy tích cực của học viên, coi trọng việc giúp học viên khám phá.

1. Kích thích tư duy.
a. Trình bày tài liệu nghiên cứu nhưng giúp học viên biết động não suy nghĩ.
- Giúp đỡ để cho từng cá nhân trong lớp học đều là người khám phá biết đi tìm lẽ thật.
- Giúp đỡ để từng học viên trở thành “người điều tra” đối với đề tài được học.
b. Yêu cầu học viên nêu lên những điều mình suy nghĩ. Kêu gọi họ:
- Kể lại.
- Viết tóm lượt câu chuyện.
- Kể lại toàn bài học với sự trợ giúp của một ít tranh ảnh.

2. Dấy lên tinh thần học hỏi.
a. Tận dụng các câu hỏi.
- Luôn luôn hỏi “tại sao?’ đối với các sự vật.
- Khích lệ học viên đặt câu hỏi về bài học.
- Đừng dập tắt tinh thần học hỏi bằng cách đưa ra câu trả lời sớm quá và trực tiếp quá.
- Phải có sự trả lời chân thật cho mỗi câu hỏi trước khi nó được cho qua.
- Tuyệt đối không được chế nhạo gì cả.
- Đừng nên bỏ qua những câu hỏi chưa thành lời trong ánh mắt học viên.
- Khuyến khích các học viên thử tìm cách trả lời cho câu hỏi của bạn trong lớp nêu lên.
b. Giáo viên cũng phải hòa nhập với học viên thành một người khám phá.
c. Khích lệ các học viên tự đặt câu hỏi với chính mình cho sự việc: Cái gì? Bao nhiêu? Tại sao? Khi nào? Ở đâu? Ai?
3. Cho học viên làm việc.
a. Đưa ra các hoạt động.
-Đối với thiếu_nhi: vẽ tranh màu, trò lắp ghép.
- Đối với thanh_thiếu: các dự án, các đề tài thảo luận.
b. Tạo cơ hội thực hành những gì đã được học.
- Dạy về chức vụ quản gia: Tạo cơ hội để dâng hiến.
- Dạy về cầu nguyện: Tạo cơ hội cho trẻ tập cầu nguyện.
- Dạy về nghiên cứu Lời Chúa: Cho thực hành phương pháp nghiên cứu bằng cách ra bài tập về các phương pháp đã dạy:
+ Cách sử dụng Kinh Thánh phù dẫn.
+ Cách sử dụng bản đồ Kinh Thánh.
c. Khích lệ các học viên hầu việc.
- Nhờ những em lớn đến giúp đỡ cho các nhóm của những em nhỏ hơn.
- Hướng dẫn họ biết góp phần hầu việc Chúa ngay trong nhóm mình.
- Kêu gọi họ dự phần trong chức vụ âm nhạc của hội thánh.
- Hướng dẫn họ biết cách làm chứng đạo.

VI. NGUYÊN TẮC VỀ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP
Học viên phải tái tạo được lẽ thật đã được giảng dạy bằng chính trí tuệ của mình.

Tiến trình học tập kinh qua các bước sau đây
1. Ghi nhớ.
a. Đây là bước đầu tiên và là bước thấp nhất của tiến trình.
b. Một số giáo viên thường chỉ dừng lại ở bước này.
c. Là một bước quan trọng đối với việc học Kinh Thánh.
d. Tự thân bước này là bất toàn.
2. Lĩnh hội (hiểu sau khi ghi nhớ, một từ liệu sư phạm) .
a. Là một bước thăng tiến của sự ghi nhớ.
b. Khi học viên có thể diễn đạt bài học theo ngữ ngôn riêng của mình thì có nghĩa là họ đã nắm bắt được bài học.
3. Vận dụng vào đời sống.
a. Cho đến lúc nào bài học phát huy được tác dụng trên đời sống của người học viên thì đó mới là lúc học viên hấp thụ được bài học.
b. Người giáo viên có thể khích lệ học viên áp dụng bài học vào đời sống mình bằng cách khuyến khích họ nêu lên những câu hỏi có liên quan đến bài học:
- Bài học nói về điều gì?
- Bài học có ý nghĩa như thế nào?
- Có thể diễn đạt lại bằng ngữ ngôn riêng như thế nào đây?
- Có thể tin được vào những gì bài học dạy không?
- Có thể áp dụng những kiến thức mới học này theo cách thế nào?
c. Sự thành công của việc giảng dạy được lượng định trên mức độ nhuần nhuyễn mà học viên vận dụng.
- Việc giảng dạy của người giáo viên phải được thoát ra từ mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời.
- Việc giảng dạy của người giáo viên phải giúp hình thành được mối quan hệ đúng đắn với tha nhân.

VII. NGUYÊN TẮC VỀ ÔN TẬP VÀ ÁP DỤNG
Việc tổng kết và củng cố bài học phải được thực hiện qua việc ôn tập và áp dụng.

1. Tại sao phải có sự ôn tập?
a. Để vận dụng sức mạnh của sự lặp đi lặp lại.Các mẫu điển hình về việc áp dụng nguyên tắc này ngày nay thường được thấy dưới các hình thức:
- Quảng cáo thời hiện đại:
+ Bảng quảng cáo.
+Tạp chí.
+ Phát thanh.
- Giúp trí nhớ:
+ Bảng nhân, chia.
+ Các thành ngữ thông dụng.
- Hạnh kiểm của chúng ta và những sự chứng giải (cáo trách) trong đời sống của chúng ta luôn luôn chịu ảnh hưởng của những lẽ thật quen thuộc với chúng ta.
b. Sự ôn tập giúp xác định được học viên của chúng ta đã học biết được những gì.
- Sự ôn tập hoàn hảo giúp thăm dò được cả học viên lẫn giáo viên.
- Sự ôn tập giúp người giáo viên biết được những vấn đề nào học viên chưa nắm bắt được.
-Sự ôn tạp giúp chúng ta bù đắp được những lỗ hổng kiến thức của học viên.
- Tự thân bài kiểm tra về các sự kiện của bài học chưa đầy đủ là sự ôn tập.
c. Sự ôn tập đem lại cơ hội để liên hệ với các bài học đã qua và cũng có thể được dùng để giới thiệu (phần nào) bài học sắp đến.
2. Phải ôn tập như thế nào?
a. Mỗi lần ôn tập cần bao nhiêu?
- Một số phần nào đó của bài học.
- Ôn tập cả bài học.
- Một loạt bài học được ôn lại.
b. Ôn tập vào lúc nào?
- Bài học cũ có thể được ôn vào đầu buổi học.
- Một số phần của bài học hiện hành có thể được ôn vào cuối buổi.
c. Các hình thức ôn tập:
- Giáo viên tóm tắt bài học.
- Cho học viên kể lại.
- Dành riêng trong tiết vấn đáp (còn gọi là phát vấn).
- Tổ chức cho mọi học viên cùng thảo luận theo một phần bài học nào đó hay một đề tài nào đó.
- Cho viết bài thu hoạch.
- Cho làm thủ công (ấu_nhi)

 


MỤC LỤC

7 Nguyên Tắc Giảng Dạy
Tác giả: David Garrison


TỰA
GIỚI THIỆU
Chương 1: THẾ NÀO LÀ MỘT PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH?
Chương 2: CẬN CẢNH CPM
Chương 3: MƯỜI YẾU TỐ PHỔ BIẾN
Chương 4: MƯỜI YẾU TỐ CHUNG
Chương 5: NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
Chương 6: NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
Chương 7: NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI CPM
Chương 8: NHỮNG BÍ QUYẾT DÙNG ĐỂ KIỂM SOÁT MỘT CPM.
Chương 9: KHẢI TƯỢNG CPM ĐỐI VỚI THẾ GIỚI


GIỚI THIỆU

Ở khắp mọi góc nẻo của địa cầu này các báo cáo đang được tới tấp gửi về. Lúc đầu chỉ một ít mà thôi, nhưng những báo cáo càng ngày càng nhiều và càng thường xuyên hơn, tăng viện cho nhau với các bản tin đáng ngạc nhiên về việc hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng vạn người đến với Đấng Christ, thành lập nên các hội thánh mới và rao truyền đức tin mới vừa tìm được.

Đông Nam Á
Khi một nhà điều phối chiến lược bắt đầu công việc của mình vào năm 1993, chỉ có ba hội thánh và 85 tín hữu giữa vòng 7 triệu linh hồn hư mất. Bốn năm sau, có đến 550 hội thánh và gần 55.000 tín hữu.

Bắc Phi
Trong một bài giảng Thứ Sáu hàng tuần của mình, một tăng lữ Hồi Giáo Ả-rập đã than phiền rằng hơn 10.000 tín đồ Hồi Giáo sống trong các vùng núi lân cận đã bội đạo từ bỏ Hồi Giáo để trở nên những Cơ-đốc-nhân.

Một thành phố ở Trung Hoa
Trong khoảng thời gian hơn bốn năm (1993-1997), hơn 20.000 người đã tin nhận Đấng Christ, và kết quả là hơn 500 hội thánh được thành lập.

Châu Mỹ La-tinh
Hai hiệp hội Báp-tít đã khắc phục được sự bắt bớ để mở mang 235 hội thánh vào năm 1990 thành 3.200 hội thánh vào năm 1998.

Trung Tâm Châu Á
Một nhà điều phối chiến lược đã thuật lại: “Vào khoảng năm 1996, chúng tôi đã triệu tập các hội thánh trong khu vực và nhờ họ thử đếm có bao nhiêu người đã đến với Đấng Christ trong năm đó. Khi họ cộng lại, có đến 15.000 Thánh Lễ Báp-tem trong một năm. Năm trước đó theo ước tính chỉ có 200 tín hữu mà thôi.”

Tây Âu
Một vị giáo sĩ ở Châu Âu thuật lại rằng: “Năm ngoái (1998), vợ tôi và tôi đã mở mang được 15 nhóm tế bào của một hội thánh mới. Khi chúng tôi đi công tác ở Hoa Kỳ trong vòng 6 tháng từ tháng Sáu năm rồi, chúng tôi ngạc nhiên trước những gì chúng tôi chứng kiến khi trở về. Thật là kỳ diệu! Chúng tôi có thể xác nhận rằng hiện giờ có ít nhất đến 30 hội thánh, nhưng tôi tin rằng số hội thánh có thể nhiều gấp đôi hoặc gấp ba.”

Ê-thi-ô-pi
Một nhà chuyến lược truyền giáo đã bình luận, “Đã phải mất đến 30 năm chúng tôi mới có thể thành lập được bốn hội thánh. Chúng tôi vừa khởi lập được 65 nhóm tế bào trong vòng chín tháng qua.”

Hiện giờ, mọi khu vực trên thế giới đều rộn ràng với Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Đôi khi chúng ta chỉ thấy những con số, nhưng thường chúng được kèm theo với những lời tường thuật sống động, như mẩu tin e-mail mà chúng tôi mới vừa nhận được sau đây: “Tất cả các hội thánh tế bào của chúng tôi đều có các mục sư / lãnh đạo không thuộc tầng lớp tăng lữ bởi vì chúng tôi thực hiện công việc nhanh đến nỗi vị giáo sĩ hiếm khi hướng dẫn được hai hoặc ba lớp học Kinh Thánh trước khi Đức Chúa Trời dấy lên ít nhất một giáo sĩ. Một vị lãnh đạo mới dường như vừa được cứu vừa đồng thời được kêu gọi để lãnh đạo tại cùng một thời điểm, vì thế chúng tôi thực hiện thánh lễ Báp-tem cho anh và tặng anh một cuốn Kinh Thánh. Sau khi các mục sư / lãnh đạo được báp-tem, họ nóng cháy đến nỗi họ không thể kìm giữ được nữa. Họ tỏa đi khắp hướng trên đất nước và khởi mở các lớp học Kinh Thánh, và một ít tuần sau đó, họ đã bắt đầu nhận được tin tức về việc bao nhiêu hội thánh đã được khởi lập. Đây là điều hào hứng nhất mà chúng tôi đã từng chứng kiến! Chúng tôi không khởi sự nó, chúng tôi không thể ngăn cản nó nếu thử làm như vậy.”

Trong khoảng thời gian hơn bốn năm (1993-1997),
hơn 20.000 người đã tin nhận Đấng Christ, và kết quả là hơn 500 hội thánh được thành lập .

Bên cạnh lòng mong mỏi và nỗi vui mừng của mình, các giáo sĩ cũng đã gặp phải một số câu hỏi. Hầu hết chưa hề mục kích được một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh nào. Giấc mơ của tất cả giáo sĩ là việc gọi mời toàn bộ một nhóm nguời đến với Đấng Christ. Cứ nghĩ đến việc hàng ngàn người không đếm xuể đang đợi để được nghe và ứng đáp với phúc âm thì niềm say đã mê hun đúc tấm lòng và tâm tình của các giáo sĩ trên khắp thế giới.

Vậy thì thế nào là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh? Hiện tượng này là gì mà nó hấp dẫn chúng ta đến thế? Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh hội thánh này đang xảy ra ở đâu? Vì sao chúng xảy ra? Đây có phải là một điều gì mới mẻ hoặc chúng đã từng và đang ở với chúng ta? Nguyên nhân nào đã làm cho chúng xảy ra? Chúng là các sự kiện ngẫu nhiên hay là chúng có những đặc tính chung nào? Chúng ta có thể làm điều gì để khuyến khích chúng không?

Ngày càng có nhiều các giáo sĩ và các nhà chiến lược đang đặt ra nhũng câu hỏi hắc búa này và tìm hiểu về tính chất của các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Những câu hỏi hắc búa dẫn đến những câu trả lời bổ ích. Các câu hỏi và các câu trả lời này là chủ đề của cuốn sách này.

Để có thể đạt đến những hiểu biết sâu nhiệm này, chúng tôi đã chất vấn một số các giáo sĩ, các nhà điều phối chiến lược và các cá nhân đã từng có kinh nghiệm cá nhân đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh để nhờ họ phản ánh lại các kinh nghiệm chung của họ và đưa chúng lên một diễn đàn kêu gọi sự phê bình và phân tích. Trong con mắt của họ, chúng tôi đã và đang cố tách ra những yếu tố chính yếu đã làm nên hiện tượng này cũng như những trở ngại ngăn cản những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Chúng tôi cũng đã giao việc cho họ bằng cách cung cấp cho họ các công việc thực tiễn để khởi xướng và nuôi dưỡng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Tác giả mang ơn sâu sắc đối với những đồng nghiệp là các giáo sĩ này.

Mục đích của cuốn sách này là: 1) định nghĩa các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; 2) xác định các đặc tích phổ biến của chúng; 3) xem xét những trở ngại thường gặp đối với các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; 4) phân tích một loạt bao gồm nhiều trường hợp nghiên cứu điển hình thực tế; 5) cung cấp những công cụ thực tiễn để khởi xướng và nuôi dưỡng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh; và 6) xác định các câu hỏi thường gặp (FAQ) về các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.

Các trường hợp nghiên cứu điển hình và các minh họa được sử dụng trong cuốn sách này bắt nguồn từ khắp nơi trên thế giới. Một số đã và đang được thu thập từ các quốc gia mở là nơi có ít các rào cản chính thức ngăn cản việc rao truyền phúc âm. Những cái khác phát nguồn từ những nơi mà Cơ-đốc-giáo bị bắt bớ hoặc thậm chí bị cấm đoán. Chúng tôi không dám loại bỏ các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh này ra khỏi bản tổng kết của chúng tôi, nhưng chúng tôi phải giấu các tên và các địa danh này để có thể bảo vệ những người có liên hệ.

Cuốn sách này khôgn đưa ra những lý thuyết mà chúng tôi dự định chứng minh chúng, nó cũng không phải là một khuôn mẫu mà chúng tôi muốn áp đặt trên một số kiểu tình huống khác nhau. Đây là những mô tả về những gì mà chúng tới đã được thấy và được biết. Những người liên quan cũng đã rút ra những nguyên tắc từ các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh trong thực tế. Để có thể phản ánh lại một bức tranh cách càng chân thật càng tốt, chúng tôi sẽ cho bạn biết những đặc tính nào xảy ra thường xuyên và những đặc tính nào là bất thường.

Chúng tôi cầu nguyện để cuốn sách nhỏ này có thể được sử dụng như là một nguồn tài nguyên bổ ích cho các giáo sĩ và những người bạn truyền giáo trên khắp thế giới, vì tất cả chúng ta đều muốn tìm hiểu xem Đức Chúa Trời đang làm những gì và Ngài đặt chúng ta trên công trường truyền giáo với Ngài như thế nào khi Ngài đang dấy lên những Phong Trào Mở Mang Hội Thánh giữa vòng các dân tộc.

Chương 1:
THẾ NÀO LÀ MỘT PHONG TRÀO MỞ MANG HỘI THÁNH?

Vào năm 1998, một cuộc truyền giáo đã ứng dụng lời phát biểu về khải tượng: Chúng ta sẽ tạo điều kiện cho những người hư mất đến với Đức Chúa Giê-xu Christ bằng cách khởi xướng và nuôi dưỡng các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh giữa vòng các dân tộc . Lời phát biểu về khải tượng này là kim chỉ nam cho công việc của các giáo sĩ đang hầu việc trên hơn 150 quốc gia vòng quanh thế giới.

Vậy thì, thế nào là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh? Một định nghĩa đơn giản về một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là một sự tăng trưởng nhanh chóng theo số mũ của các hội thánh bản địa trong vòng một nhóm người hoặc một bộ phận dân số cụ thể nào đó .

Có một số yếu tố then chốt trong định nghĩa này. Thứ nhất là nhanh chóng . Là một phong trào, một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh xảy ra trong sự gia tăng nhanh chóng về số lần khởi lập hội thánh mới. Việc thành lập hội thánh liên tiếp nhau trong hàng thập kỷ và thậm hàng thế kỷ qua là tốt nhưng chưa đủ để được gọi là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh.

Thứ hai là sự gia tăng theo số mũ . Điều này có nghĩa là sự gia tăng về số lượng các hội thánh không phải là tăng theo cấp số cộng - cộng thêm một ít hội thánh mỗi năm hay đại loại như vậy. Thay vì đó, nó tăng lên theo số mũ - hai hội thánh trở nên bốn, bốn hội thánh trở thành 16 và cứ thế tiếp tục. Việc phát triển gấp bội theo số mũ chỉ có thể xảy ra khi nào các hội thánh mới được khởi lập bởi chính các hội thánh - thay vì bởi các nhà mở mang hội thánh chuyên nghiệp hoặc các giáo sĩ.

Cuối cùng, chúng là các hội thánh bản địa . Điều này có nghĩa là chúng được phát sinh từ bên trong hơn là từ bên ngoài. Điều này không có ý nói là phúc âm có khả năng phát triển một cách ngẫu nhiên theo trực giác giữa vòng một nhóm người. Phúc âm thuờng đến từ một nhóm người từ bên ngoài vào; đây là công việc của giáo sĩ. Tuy nhiên, trong một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, đà phát triển thường nhanh chóng trở nên mang tính bản địa để rồi thế chủ động và nỗ lực của phong trào đến từ bên trong một nhóm người thay vì đến từ những người ngoài.

Nếu định nghĩa này không đủ sáng tỏ, chúng ta có lẽ sẽ cũng phải làm sáng tỏ bằng các xem xét những gì là không thuộc một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không phải còn hơn “việc chứng đạo mà kết quả là các hội thánh” Việc chứng đạo mà kết quả của nó là các hội thánh là một phần của một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, nhưng “khải tượng cuối cùng” thì kém bao quát hơn. Một người mở mang hội thánh có lẽ đã thỏa mãn với chính mình về mục tiêu là thành lập chỉ một hội thánh mới hoặc thậm chí cả lố hội thánh, nhưng không nhìn thấy rằng cần phải có một phong trào các hội thánh mở mang hội thánh để có thể cứu toàn bộ cả một dân tộc.

Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh là một sự tăng trưởng của các hội thánh bản địa một cách nhanh chóng theo số mũ trong vòng một nhóm người hoặc một bộ phận dân số cụ thể nào đó .

Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh cũng còn hơn hẳn một cuộc phục hưng của các hội thánh đã tồn tại sẵn. Người ta rất mong muốn có được các cuộc phục hưng, nhưng chúng không phải là các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các buổi nhóm truyền giảng và các chương trình làm chứng có thể dẫn hàng ngàn người đến với Đấng Christ, và thật kỳ diệu, nhưng chúng không giống như một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh. Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh nhà nhân tố đặc trưng là các hội thánh tự phát triển chính mình.

Có thể là cái gần gũi nhất với một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, là cái vẫn chưa phải là một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, là khi những người mở mang hội thánh tại địa phương được huấn luyện và sử dụng để mở mang hàng loạt các hội thánh giữa vòng chính dân tộc mình. Đây là một phương pháp khá hiệu quả trong việc mở mang hội các thánh giữa vòng một bộ phận dân số hoặc một nhóm người, nhưng đà phát triển vẫn nằm trong tay của một nhóm hữu hạn những người mở mang hội thánh chuyên nghiệp thay vì nằm trong lòng của mỗi một hội thánh mới được khởi lập.

Cuối cùng, một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không phải là mục đích của chính nó . Mục đích của tất các các nỗ lực của chúng ta là cho Đức Chúa Trời được vinh hiển. Điều này xảy ra bất kỳ lúc nào mà các cá nhân được vào trong mối tương giao với Đức Chúa Trời thông qua Đức Chúa Giê-xu Christ. Khi họ làm như vậy, họ được đem vào trong các hội thánh là những hội thánh giúp họ có thể tiếp tục tăng trưởng trong ân điển với những tín hữu khác có đồng một tâm tình. Bất kỳ khi nào nguời ta có được cuộc sống mới trong Đức Chúa Giê-xu Christ thì Đức Chúa Trời được vinh hiển. Bất kỳ khi nào một hội thánh được khởi lập - bất kể là ai đã làm điều đó - thì có các lý do để ngợi khen.

Thế thì vì sao một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh lại đặc biệt đến như vậy? Bởi vì dường như nó bày tỏ một tiềm năng vĩ đại nhất để cho số lượng những người hư mất đông đảo nhất mang vinh hiển cho Đức Chúa Trời thông qua cuộc sống mới trong Đấng Christ và bước vào trong cộng đồng đức tin.

Tuy nhiên, một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh không chỉ đơn thuần là sự gia tăng về số lượng hội thánh, dù rằng điều này cũng mang tính tích cực. Một Phong Trào Mở Mang Hội Thánh xảy ra khi khải tượng về các hội thánh mở mang hội thánh lan từ giáo sĩ và người mở mang hội thánh chuyên nghiệp đến chính các hội thánh, để rồi với chính đặc tính của chúng, chúng sẽ cứu những người hư mất và phát triển họ.

Chúng ta hãy ôn lại một số điểm chính yếu. Các giáo sĩ là những người mở mang hội thánh có năng lực, nhưng luôn bị giới hạn về số lượng. Những người mở mang hội thánh tại địa phương có triển vọng hơn, đơn giản chỉ là vì lực lượng những người sẵn lòng này đông đảo hơn. Các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh hội thánh có tiềm năng vĩ đại hơn, vì việc mở mang hội thánh đang được thực hiện bởi chính các hội thánh, dẫn đến số lượng hội thánh mới được khởi lập là đông đảo hơn hết.

Để có thể hiểu thấu đáo hơn về các Phong Trào Mở Mang Hội Thánh, chúng ta hãy xem xét một số các trường hợp nghiên cứu điển hình và phân tách chúng ra để có thể phân tích một cách thấu đáo hơn.


SUU TAM


Mọi bài vở cộng tác và góp ý xin gửi về info@nguonhyvong.com
 

 
   NHẠC PHẨM

KTC80

NgaiLaAi80

VungTin75

DangvinhquangchoChua_75

100NAMCANGOICHUA80

datthanh75

Mời kết nối với Facebook

 


CD CHỨNG ĐẠO

 

VỀ ĐÂU?

TÌNH YÊU NÀO?

TIN LÀNH LÀ GÌ?

TIN LÀNH CHO VN

7dieu80

buctranh80

3 CÂU HỎI

BẢO HIỂM LINH HỒN

Flickr NHV

shutter3shutter22shutter24shutter19shutter1shutter18

FACEBOOK NHV

Mời kết nối với Facebook

TWITTER NHV

Mời kết nối với Twitter NHV

Web Links

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tìm Kiếm Web

Google

Tra Cứu Kinh Thánh

Tìm VIDEO

:: TV

:: Giảng Luận

:: Nhạc 

YOUTUBE WEBSITES

Thống Kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter