Cựu Ước Giản Lượt (15)
Ô-SÊ Tác giả: Ông Ô-sê Thời kỳ hình thành sách: Thời kỳ vương quốc bị chia đôi, trong thời gian thành Sa-ma-ri còn tồn tại. Thời kỳ vương quốc bị chia đôi, trong thời gian thành Sa-ma-ri còn tồn tại.
Mục đích: Nhằm nhẹ nhàng thuyết phục dân Do Thái không nên tin cậy vào các “vị cứu nguy” khác, nhưng hãy trung thành với Đức Chúa Trời. Đối tượng: Dân của Đức Chúa Trời đang sa ngã vì họ đã đánh mất tình yêu với ĐứcChúa Trời. Tản mạn “Có bao giờ bạn tính chuyện đi làm gái điếm chưa?” Khiếp quá! Tôi nghĩ rằng tự thân câu hỏi cũng đủ ghê tởm vô cùng rồi. Theo tôi trong cả triệu triệu gái điếm trên khắp thế giới, không có người nào vào thời còn mài đũng quần trên ghế nhà trường lại viết một bài luận văn đại khái là: “Sau này lớn lên tôi muốn làm gái điếm”. Thế nhưng sao cuối cùng họ lại đi làm điếm? Chắc hẳn người nào cũng có lý do riêng, đến nỗi số lý do cũng nhiều như số gái điếm vậy. Nhưng một lý do chung cho tất cả là: không một người nào trù tính cho mình một nếp sống như vậy. Vào năm 1990, bộ phim về một cô gái điếm được nhiều người yêu thích so với tất cả những bộ phim khác. Bộ phim có tựa đề: “Người phụ nữ xinh đẹp” (Pretty woman). Một số người cho rằng đó chỉ là một câu chuyện thần tiên hiện đại. Tuy nhiên dầu thú vị đến đâu bộ phim vẫn ẩn chứa một điểm sai trái nghiêm trọng. Bộ phim mô tả một cô gái điếm xinh đẹp, phúc hậu đáng yêu. Tệ hơn là bộ phim mô tả gái điếm là con người xứng đáng được công nhận. Dầu trong phim ảnh, cuộc sống của gái điếm có vẻ như được con người chấp nhận. Nhưng trong cuộc sống xưa nay điều đó chưa bao giờ, không bao giờ và sẽ không bao giờ đáng được tán dương khâm phục cả. Sách Ô-sê cũng chép về một cô gái điếm. Nàng tên là Gô-me, tiêu biểu cho dân Do Thái. Thay vì chung thủy với chồng, nàng lại làm dâm phụ. Vậy qua sách này bạn thử tìm xem Đức Chúa Trời có khen ngợi mãi dâm, có cho đó là một ngành nghề toả hào quang hoặc không? Thâm nhập Sách Ô-sê làm nổi bật tấm lòng của Đức Chúa Trời chứ không phải sự thánh khiết của Ngài. Nếu không có sách Ô-sê biết đâu chúng ta lại có ấn tượng sai lầm cho rằng Đức Chúa Trời là một vị quan toà vô tâm, xét xử người Ngài ghét một cách tàn nhẫn. Nhưng nghĩ như thế là lệch lạc, không đúng với sự thật. Đức Chúa Trời tha thiết mong muốn, thậm chí mòn mỏi trông chờ thiết lập mối tương quan với chúng ta. Nên nhớ đó không chỉ là mối tương quan thông thường mà là mối tương quan hoàn toàn riêng tư và mật thiết như mối tương quan giữa vợ chồng, giữa cha con. Đức Chúa Trời của sách Ô-sê là Đức Chúa Trời như thế nào? Ngài là một Đức Chúa Trời yêu thương. Ngài yêu thương dân Ngài hơn hết. Những ai cho rằng Đức Chúa Trời của Cựu ước chỉ là một Đức Chúa Trời thạnh nộ thì rõ ràng họ bỏ sót sách Ô-sê. I. Đức Chúa Trời ban cho sự hiểu biết (1-3) Phần thứ nhất của sách Ô-sê ghi lại một thảm kịch thật sự diễn ra trong cuộc đời được tác giả dùng để minh họa cho tấm lòng của Đức Chúa Trời. Ngài bảo tiên tri Ô-sê đi cưới một cô gái điếm và có con với nàng. Lần lượt ba người con ra đời và ông Ô-sê đặt tên là: ‘Gít-rê-ên’, ‘Không thương xót’, ‘Không thuộc về ta’. (Thắc mắc làm chi về chuyện các em này đối phó ra sao khi đến trường với những tên như thế!) Gít-rê-ên là nơi Đức Chúa Trời xét đoán dân Ngài tức là dân Do Thái. Còn tên riêng của hai người con kia có nghĩa là Đức Chúa Trời không còn thương xót họ nữa và Ngài không nhìn nhận họ là dân sự của Ngài nữa. Có lẽ ông Ô-sê không phải là cha của hai người con sau vì bà Gô-me, vợ ông, tiếp tục lối sống trụy lạc như trước. Dân của Đức Chúa Trời phạm cả tội tà dâm trong lãnh vực tôn giáo (thờ lạy thần tượng) lẫn tội tà dâm trong lãnh vực chính trị (nhờ các dân ngoại bang cứu giúp). Kết quả là Đức Chúa Trời sẽ vạch trần tội lỗi của họ và làm nhục họ trước mắt các dân tộc khác. Dầu Ngài yêu thương họ nhưng Ngài không thể bỏ qua tội lỗi của họ được. Ngài phải áp dụng kỷ luật đối với họ. Tuy vậy, sau khi gánh chịu sự nhục nhã, Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ ba điều mà họ không có: 1. Lòng nhân ái . 2. Lòng trung thành . 3. Hiểu biết Đức Chúa Trời (2:19-20) Thay vì nơi xét đoán, Gít-rê-ên sẽ trở thành nơi vui mừng phước hạnh (2:22). Đức Chúa Trời sẽ đem dân Do Thái trở về làm vợ Ngài và thương xót họ. Một lần nữa, Ngài lại sẽ gọi họ là ‘dân Ta’ (2:23). Đức Chúa Trời bảo ông Ô-sê thực hiện một việc để minh hoạ cho lời hứa của Ngài, tức là ông đi chuộc nàng Gô-me ở nơi mà nàng đã tự bán mình (3:1-3). Nàng Gô-me tiêu biểu cho dân Do Thái, là dân được nhắc dưới tên riêng Ép-ra-im trong suốt sách này. Ép-ra-im vốn là chi phái đông dân nhất ở Vương Quốc Phía Bắc của nước Do Thái. II. Dân của Đức Chúa Trời không có sự hiểu biết (4-14) Phần thứ hai mở đầu bằng lời buộc tội (Chương 4) và kết thúc bằng lời kêu gọi (Chương 14). Đức Chúa Trời buộc tội dân Do Thái đã thiếu mất ba điều sau đây: 1. Sự chân thật hoặc lòng trung thành . 2. Lòng nhân ái . 3. Sự hiểu biết Đức Chúa Trời ([dc 4:1;) . Thử so sánh ba điều này với ba điều Đức Chúa Trời hứa ban cho họ trong phần thứ nhất (2:19-20). Chủ đề chính của sách này là: ‘không nhìn biết Đức Chúa Trời’ (6:6). Sách này dùng cụm từ: ‘nhìn biết Đức Chúa Trời’ mười một lần và ‘Đức Chúa Trời biết dân Do Thái’ đến ba lần. Trong sách Ê-xê-chi-ên sự nhận biết Đức Chúa Trời có liên quan đến sự thánh khiết của Ngài, còn trong sách Ô-sê nhận biết Đức Chúa Trời là sự hiểu biết riêng tư của cá nhân (tức là kinh nghiệm, từng trải) về lòng yêu thương và thành tín của Đức Chúa Trời. Đan xen những lời buộc tội và kêu gọi (Chương 5-13) là lời Đức Chúa Trời mô tả về chính Ngài trong ba vai trò khác nhau. Thứ nhất, Ngài là Chồng dân I-xơ-ra-ên thông qua Giao ước (6:7). Dân Do Thái là Vợ nhưng ngoại tình. Thứ hai, Đức Chúa Trời là vua dân Do Thái thông qua sự chu cấp, che chở và bảo vệ của Ngài. Dân Do Thái được ví như những thần dân bội nghịch Ngài. Mỉa mai thay, họ lấy nguồn thực phẩm dồi dào mà Đức Chúa Trời ban cho họ để dâng cho thần Ba-anh. Họ lấy vàng bạc mà Đức Chúa Trời ban cho để đúc tượng thần Ba-anh (8:4; so sánh với 2:8). Từ thời đó đến nay, lòng con người cũng chẳng đổi khác, phải không? Các thương gia được Đức Chúa Trời ban phước lại đem tiền đổ vào ‘bảo hiểm’ thay vì nương cậy nơi Ngài. Các bậc phụ huynh được Đức Chúa Trời ban cho những đứa con thông minh và xinh đẹp thì dâng vào tháp ngà học vấn và các tòa nhà chọc trời của nền kinh tế vàng son thay vì ‘phí phạm’ tài năng của con cái vào công tác phục vụ Đức Chúa Trời. Phải chăng họ quên mất rằng họ chỉ là quản gia của vị Vua Vĩ Đại? Thứ ba, Đức Chúa Trời là Cha của dân Do Thái thông qua việc ‘nhận làm con’ và sự cứu chuộc. Trước kia Đức Chúa Trời đã cứu họ ra khỏi Ai-cập như thế nào, thì một lần nữa, Ngài lại cứu họ ra khỏi A-si-ri như thể ấy. Đức Chúa Trời gọi con trai Ngài ra khỏi Ai-cập (11:1) (theo bản gốc ‘Xuất Châu Phi’). Dân Do Thái được ví như con trai hoang đàng của Đức Chúa Trời. Mối liên hệ đầy tính cách mỉa mai nầy lại được nhấn mạnh một lần nữa. Dầu họ sẽ bị hình phạt từ tay Ai-cập (11:5,11), nhưng lòng họ vẫn hướng về ‘Ai-cập’ (12:1;, xem thêm 7:11). Chú ý là trong sách này tác giả đề cập đến Ai-cập và A-si-ri đi cặp với nhau. Dân chúng thiếu mất ba điều: lòng trung thành, tình yêu thương và sự hiểu biết. Đây cũng chính là ba mỹ đức phản ánh mối liên hệ đặc biệt giữa họ và Đức Chúa Trời. Lẽ ra họ phải trung thành với Đức Chúa Trời như vợ đối với chồng. Song họ đã bất trung với Đức Chúa Trời. Lẽ ra họ phải yêu mến Đức Chúa Trời như con trai yêu thương cha. Nhưng họ đã không yêu mến Ngài. Lẽ ra họ phải công nhận Đức Chúa Trời như dân trong một vương quốc công nhận vua của mình. Nhưng họ không có thái độ đó. Dầu vậy Đức Chúa Trời vẫn thành tín, yêu thương và công nhận họ là vợ, là con và là thần dân của Ngài. Câu Kinh Thánh chính, là câu cuối của chương cuối cùng trong sách này: “Ai là người khôn ngoan mà hiểu những sự này? Ai là giỏi giang mà biết những sự đó? Vì các đường lối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng: những kẻ công bình sẽ bước đi trong đó, còn những kẻ phạm phép thì vấp ngã trong đó.”(14:9) Trong sách Đa-ni-ên, người khôn ngoan sẽ hiểu công việc của Đức Chúa Trời. Còn ở đây, trong sách Ô-sê, người khôn sáng sẽ hiểu biết bản tánh của Đức Chúa Trời. Trong sách Đa-ni-ên, dân Đức Chúa Trời phải hiểu cách sống ở giữa thế gian. Còn trong sách Ô-sê, họ phải hiểu cách sống trong mối tương quan với Đức Chúa Trời. Nói cách khác , họ phải sống cuộc đời trung thành, yêu thương và đầu phục Đức Chúa Trời. Thế nhưng họ vẫn tiếp tục chống nghịch Đức Chúa Trời và tiếp tục gian dâm. Rồi họ phải chịu hình phạt vì cớ lối sống của họ. Và họ phải chịu lắm truân chuyên khi kinh nghiệm tình yêu của Chúa. Trọng tâm Hãy nhận biết rằng tình yêu của Đức Chúa Trời luôn có kỷ cương. Thực hành Trong đêm tân hôn, cô dâu nói với chồng rằng: “Anh yêu, em sẽ luôn tha thứ cho anh dẫu anh có làm gì chăng nữa.” Nhưng cũng có cô dâu khác nói với chồng rằng: “Nếu anh không chung thuỷ với em thì em sẽ bỏ anh”. Trong hai trường hợp trên, ai đúng, ai sai? Điều đó còn tuỳ thuộc vào ý họ muốn nói. Quyển sách của ông James Dobson: “Love must be tough” (“Yêu bằng tình yêu rắn rỏi”) gói trọn lời giải đáp của Đức Chúa Trời. Người vợ cần tha thứ cho người chồng không chung thủy của nàng. Nhưng điều đó không có nghĩa là vẫn tiếp tục sống với người chồng ấy như thể không có điều gì xảy ra cả. Nàng phải đối diện với tội lỗi của anh ta. Vì nếu anh không ăn năn, nàng phải cắt đứt quan hệ với anh ta. Nàng phải ngưng gặp anh ta, nhưng vẫn tiếp tục yêu thương anh. Đây là cách Đức Chúa Trời đối xử với dân Ngài khi họ phạm tội. Tình yêu của Đức Chúa Trời là tình yêu bền vững nhưng nghiêm minh. Khi chúng ta phạm tội, Đức Chúa Trời thường đưa chúng ta ra khỏi sự hiện diện cùng sự che chở của Ngài. Những người khôn ngoan sẽ ăn năn và trở lại với Đức Chúa Trời. Họ nhận biết rằng dầu Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương nhưng Ngài không thể bỏ qua tội lỗi. Bên cạnh đó cũng có một số người buông mình vào nếp sống gian dâm với đời này. Họ bị lôi cuốn với những cảm giác hạnh phúc, sung sướng, an toàn, hãnh diện và thành đạt giả dối mà thế gian đem lại cho họ. Họ đánh đổi điều thiêng liêng trong mối tương quan duy nhất của họ với Đức Chúa Trời để nhận lấy điều vui sướng tạm thời trong sự tự mãn. Vì sao chúng ta vẫn mơ ước giàu có hoặc nổi tiếng hoặc thậm chí chúng ta thèm thuồng lối sống của giới giàu sang và nổi danh? Một số người trong chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời là Cứu Chúa mình. Nhưng chúng ta còn phải biết Ngài là Cha, chồng và vua của chúng ta. Khi nào chúng ta nhận biết Ngài là Cha, là chồng và vua của chúng ta, khi ấy chúng ta thật sự biết Ngài đúng theo ý Ngài? Và bấy giờ chúng ta nhận biết rằng theo quan điểm của Ngài chúng ta thật sự giàu có và nổi tiếng rồi. Ô-SÊ Ý chính: GÁI MẠI DÂM Chủ đề chính: Lòng nhân ái Cụm từ chính: ‘Không nhìn biết Đức Chúa Trời’ (7 lần) Câu chính: “Ai là người khôn ngoan mà hiểu những sự này? Ai là giỏi giang mà biết những sự đó? Vì các đường lối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng: những kẻ công bình sẽ bước đi trong đó, còn những kẻ phạm phép thì vấp ngã trong đó.” Bài học chính: Hãy nhận biết rằng tình yêu của Đức Chúa Trời có kỷ cương GIÔEN Tác giả: Ông Giô-ên Thời kỳ hình thành sách: Không rõ, ngay sau một tai họa. Mục đích: Nhằm cảnh báo dân Do Thái về sự hình phạt của Đức Chúa Trời sắp giáng trên họ nếu họ không ăn năn dù đã trải qua đợt “kiền khôn” của sự hình phạt rồi. Đối tượng: Những người vừa mới trải qua một tai họa mà không nhận ra rằng đó là biện pháp kỹ luật của Đức Chúa trời. Tản mạn Khi Đức Chúa Trời ra lệnh cho dân Do Thái tiến vào chiếm Đất Hứa thì họ than vãn rằng: “Chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào và họ thấy chúng tôi cũng vậy” (Dan So Ky 13:33). Họ không mảy may ngờ là cào cào có thể làm nên chuyện đến cỡ nào! Tai vạ cào cào thực ra là tình trạng cào cào đáp xuống từng đàn. Tai vạ cào cào là một trong những tai họa đáng sợ nhất đối với con người. Chúng có sức tàn phá triệt để đến mức con người đành bó tay bất lực. Dù có trong tay mọi thiết bị kỹ thuật tân tiến, con người cũng chỉ làm được một điều duy nhất là cầu nguyện cho gió đổi hướng mà thôi. Trong sách Giô-ên, Đức Chúa Trời dùng nạn cào cào vừa diễn ra để cảnh báo về sự hủy diệt mà Ngài sẽ giáng trên những người vẫn tiếp tục coi thường các tiên tri của Ngài. Tất cả những ai nghĩ rằng ‘điều đó không thể xảy ra với tôi’ đều cần đọc sách này. Đối với những người đó, Đức Chúa Trời nhắc đến một thiên tai mới diễn ra và bảo họ “Suy nghĩ lại đi”. Thâm nhập Chủ đề chính của sách Giô-ên là ‘Ngày của Chúa’. ‘Ngày’là thời điểm mà Đức Chúa Trời sẽ chỉnh đốn lại mọi điều bất công trên thế giới và xét xử con người. Trong quá khứ đã có nhiều ‘Ngày của Chúa’ và trong tương lai, sẽ có nhiều ‘Ngày của Chúa’ hơn nữa. ‘Ngày của Chúa” ở thời Cựu Ước là thời thành Giê-ru-sa-lem thất thủ và dân Do Thái bị lưu đày năm 586 TC. Vào năm 70 SC, thành Giê-ru-sa-lem lại bị phá hủy một lần nữa, đó cũng là ‘ngày của Chúa’. Một số học giả tin rằng ‘Ngày của Chúa’ mà sách Giô-ên nhắm đến chính là sự kiện thành Giê-ru-sa-lem thất thủ năm 586 TC. Còn các học giả khác lại tin rằng những chi tiết mô tả trong sách này (3:2) cho thấy thành Giê-ru-sa-lem đã thất thủ rồi. Có lẽ chúng ta không bao giờ dám quyết đoán về việc này. Nhưng chúng ta có thể biết chắc rằng ngày Đức Chúa Trời xét xử chúng ta sắp đến rồi. I. Ngày của Chúa vô cùng kinh khiếp (1:1-2:17) Ông Giô-ên dùng nạn cào cào vừa mới diễn ra làm dấu hiệu về sự hình phạt của Đức Chúa Trời giáng trên dân Ngài. Trong bối cảnh ngày nay, dấu hiệu đó có thể là: hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, núi lửa… một trận cuồng phong hoặc bất kỳ ‘thiên tai’ nào khác. Hễ khi nào các tai họa trên xảy ra, chúng ta phải tự xét xem đó có phải là sự hình phạt của Đức Chúa Trời hay không. Còn trường hợp nạn cào cào trong thời ông Giô-ên, chúng ta có thể chắc chắn rằng đó là hình phạt của Đức Chúa Trời. Nạn cào cào chỉ về điều gì? Sự tàn phá nghiêm trọng và triệt để. “Cái gì sâu keo còn để lại, cào cào ăn; cái gì cào cào còn để lại, sâu lột vỏ ăn; cái gì sâu lột vỏ còn để lại, châu chấu ăn” (1:4). Các đợt cào cào, châu chấu lần lượt tràn tới đã tàn phá toàn bộ đất đai, xứ sở. Khi nào hết tai họa này, đến tai họa khác liên tiếp đổ xuống trên chúng ta, đó là dấu hiệu cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời muốn cảnh báo về tội lỗi chúng ta. Tuy nhiên, sứ điệp của sách Giô-ên không chỉ có chừng đó. Nạn cào cào chỉ là hình ảnh minh họa cho tai họa lớn hơn sắp xảy ra. Trong chương 2 ông Giô-ên mô tả một đạo quân đông đảo với sức mạnh vô song sẽ đến trong ‘ngày vĩ đại và vô cùng kinh khiếp’ của Chúa (2:11). Rồi ông kết thúc phần thứ nhất bằng lời kêu gọi dân chúng hãy ăn năn (2:12-17). Chỉ nhờ ăn năn mà họ có thể tránh khỏi ngày hình phạt của Đức Chúa Trời trong tương lai mà thôi. II. Ngày của Chúa đến gần rồi (2:18-3:21) Chốt chuyển hướng của sách nằm giữa 2:17 và 2:18: Khi dân chúng ăn năn (2:17), Đức Chúa Trời sẽ động lòng thương xót họ (2:18). Phần thứ nhất chủ yếu chép về kỷ luật của Đức Chúa Trời đối với dân của Ngài. Phần thứ hai chủ yếu tập trung vào việc Đức Chúa Trời giải cứu dân của Ngài. Trong phần một, Đức Giê-hô-va chiến đấu chống dân của Ngài. Còn trong phần hai, Đức Giê-hô-va chiến đấu cho dân của Ngài. Phần một mô tả ngày của Chúa là ngày kinh khiếp, nhưng phần hai mô tả ấy là ngày hi vọng (2:32; 3:16). ‘Tai vạ’ là từ ngữ chính tóm tắt phần một của sách. Còn từ ngữ ‘lễ ngũ tuần’ tóm tắt phần hai của sách. Câu Kinh Thánh mà ông Phi-e-rơ trưng dẫn trong bài giảng vào ngày Lễ ngũ tuần (Cong Vu 2:16-31) trích từ phần thứ hai của sách này (2:28-32). Vì thế câu Kinh Thánh chính của toàn sách này cũng nằm trong phần hai: “Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chưa đến. Bấy giờ ai cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va thì sẽ được cứu; vì theo lời Đức Giê-hô-va, thì ở trên núi Si-ôn và trong Giê-ru-sa-lem sẽ có những người trốn khỏi, và trong những người còn sống sót, sẽ có kẻ mà Đức Giê-hô-va kêu gọi.” (Gioen 2:31-32). Khác với hầu hết các tiên tri khác, tiên tri Giô-ên không dành nhiều thời gian mô tả tội lỗi của dân chúng. Vai trò của sách Giô-ên tương tự như của một đèn đỏ chớp liên hồi nhằm cảnh báo dân chúng về sự đoán phạt của Đức Chúa Trời sắp giáng trên họ nếu họ cứ tiếp tục đi trên con đường dẫn đến sự hủy diệt. Ông kêu gọi dân chúng hãy quay lại và trở về cùng Đức Chúa Trời. Trọng tâm Phải chăng Đức Chúa Trời phải lột sạch mọi thứ khỏi bạn rồi bạn mới chịu ăn năn? Thực hành Một số Cơ Đốc nhân tương tự như những tay cờ bạc ngoan cố tin rằng họ sắp gặp ‘vận may’. Nhưng trong kế hoạch của Đức Chúa Trời thì chỉ khi nào chúng ta thay đổi thì chúng ta mới gặp ‘vận may’. Trong thời gian gần đây, bệnh tật có liên tiếp hành hạ bạn không? Bạn có liên tiếp chịu đựng những đợt thất bại tổn hại không? Trong những tháng gần đây, bạn có thường gặp ‘tai bay vạ gió’ ở nơi làm việc không? Mới đây, chiếc xe của bạn có thường bị hỏng không? Chẳng phải vì cũ kỹ nhưng vì một vài lý do khó hiểu nào đó. Biết đâu vì bạn đang thực hiện một công việc lớn cho Đức Chúa Trời, Sa-tan cố tìm mọi cách để ngăn trở bạn. Tuy nhiên, cũng có thể Đức Chúa Trời muốn bạn xem xét lại một vài lãnh vực nào đó trong cuộc sống của bạn. Biết đâu vì bạn lạm dụng cơ thể của bạn nên bạn rước bệnh tật vào thân? Phải chăng bạn lo tích lũy của cải một cách ích kỷ nên bạn liên tiếp bị mất mát, thiệt hại? Có phải vì bạn không còn ngay thật ở sở làm mà bạn gặp phải nhiều rắc rối không? Phải chăng vì bạn sử dụng xe trong ý hướng hoàn toàn không làm vinh danh Đức Chúa Trời nên xe của bạn bị hỏng hóc. Vấn nạn thông thường của Cơ Đốc nhân không phải là thiếu hiểu biết, mà không biết liên hệ điều đã đọc trong Kinh Thánh vào hoàn cảnh hiện tại của mình. Chúng ta không biết liên hệ giữa tật lái xe cẩu thả của mình với chuyện chiếc xe bị hỏng mà không rõ nguyên do. Chúng ta không biết liên hệ giữa sự bất bình ở cơ quan với thói xấu của chúng ta là dùng điện thoại của công ty để gọi những cú điện thoại đường dài về việc riêng của chúng ta. Tôi cũng không biết liên hệ chuyện máy vi tính của tôi bị hỏng hóc hoài với chuyện tôi mơ tưởng quyển sách này sẽ đem lại cho tôi nhiều tiền. Tuy nhiên, khi áp dụng cách liên hệ này cách triệt để, chúng ta có thể bị ám ảnh rồi hoang tưởng. Nhưng chúng ta vẫn cần đến sách Giô-ên để nhắc chúng ta tự xét mỗi khi hàng chuỗi tai họa xảy đến cho chúng ta. GIÔ-ÊN Ý chính: TAI VẠ (và) LỄ NGŨ TUẦN Chủ đề chính: Sự đoán phạt Cụm từ chính: ‘ngày của Đức Giê-hô-va’ (5 lần) Câu chính: “Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chưa đến. Bấy giờ ai cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va thì sẽ được cứu; vì theo lời Đức Giê-hô-va, thì ở trên núi Si-ôn và trong Giê-ru-sa-lem sẽ có những người trốn khỏi, và trong những người còn sống sót, sẽ có ke mà Đức Giê-hô-va kêu gọi.” (Gioen 2:31-32) Bài học chính: Phải chăng Đức Chúa Trời phải lột sạch mọi thứ khỏi bạn rồi bạn mới chịu ăn năn? A-MỐT Tác giả: A-mốt.
Thời kỳ hình thành sách: Thời kỳ hưng thịnh tột độ của vương quốc đã bị chia đôi. Mục đích: Nhằm bộc lộ cơn giận của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi trắng trợn và tày trời của dân Do Thái. Đối tượng: Những người tưởng rằng cuộc sống an ninh và phồn thịnh mà đang hưởng là kết quả của sinh hoạt tôn giáo nặng mùi sùng đạo của họ. Tản mạn Có người cho rằng: TỘI là việc làm có thể khiến bạn bị bắt khi thực hiện việc đó. Bạn nghĩ thế nào về định nghĩa trên? Định nghĩa này có ít nhất hai điều sai. Thứ nhất, nó hàm ý rằng nếu bạn không làm việc gì khiến bạn bị bắt giữ thì bạn không phạm tội. Định nghĩa này không tính đến vô số tội lỗi nằm trong mục ‘tội lỗi đáng tôn trọng’ hoặc ‘tội lỗi hợp pháp’. Thứ hai, định nghĩa này giao cho con người, chớ không phải Đức Chúa Trời quyền thẩm định thế nào là tội lỗi. Đâu có thể kết luận một việc nào đó là đúng, là tốt lành khi mà ai ai cũng hành xử như nhau trước việc đó. Nào có phải hễ việc gì hợp pháp là cũng đạt tiêu chuẩn đạo đức đâu! Không thể căn cứ vào chuẩn mực của thế gian đời này mà định đoạt việc nào là tội lỗi hoặc không. Nhưng chúng ta phải xét theo chuẩn mực của Kinh Thánh. Chúng ta không căn cứ vào chuẩn mực của xã hội để xác định một người là lừa đảo hoặc không lừa đảo. Nhưng chúng ta phải dùng chuẩn mực của Đức Chúa Trời để đánh giá một người có ‘đạt tiêu chuẩn’ hoặc không? Thâm nhập Đó là sứ điệp của A-mốt. Nhìn bề ngoài, dân chúng có vẻ đáng tôn trọng lắm thậm chí rất tin kính. Thế nhưng khi so sánh với dây dọi của Đức Chúa Trời thì rõ ràng là lòng họ không ngay thẳng (7:8). Nhưng vì sao ngay từ bước đầu, dân chúng lại nương theo một định nghĩa sai lạc về tội lỗi. Thoạt tiên biết đâu họ chẳng nghĩ rằng: Nếu ông Giô-ên dạy chúng ta rằng hoạn nạn, tai ương là tín hiệu báo về sự phẫn nộ của Đức Chúa Trời, thì chắc chắn sự phồn thịnh là tín hiệu của ân huệ của Đức Chúa Trời. Phải không? Không đúng! Ông A-mốt rao giảng cho dân Do thái ở vương quốc miền bắc đúng lúc họ sống trong cảnh thái bình và phồn vinh. Họ tin rằng họ được sống như vậy là nhờ họ sùng đạo và chăm lo hành đạo đấy thôi. Đức Chúa Trời muốn dùng sách A-mốt để tạo thế cân bằng với sứ điệp của sách Giô-ên và phản bác quan niệm sai lầm của dân chúng. Sách Giô-ên nói về nạn cào cào vừa xảy ra, còn sách A-mốt nói về cơn động đất sắp xảy đến (1:1). Dân chúng sai lầm nặng nề khi nghĩ rằng sẽ chẳng có tai họa nào cả. Dân Do thái được phồn thịnh nhờ địa vị được ưu đãi của họ chớ không phải nhờ họ mộ đạo. I. Bất công đối với người bị áp bức (1-2) Phần thứ nhất gồm tám lời tiên tri chống các dân tộc. Mở đầu phần này ông A-mốt không tiên tri chống dân Do thái nhưng ông tiên tri chống các dân tộc Ca-na-an: dân Am-môn, Sy-ri, Phi-li-tin và Phê-ni-xi. Sau đó, ông liệt kê các tội lỗi của dân Ê-đôm, Am-môn và Mô-áp, là anh em họ của dân Do thái. Cuối cùng, ông tập trung vào tội lỗi của Giu-đa, là anh em của I-xơ-ra-ên. Đối với bảy dân tộc dầu tiên, Đức Chúa Trời mở đầu lời buộc tội bằng cụm từ “tội ác đến gấp ba gấp bốn lần”. Ngày nay, chúng ta cũng có kiểu nói tương tự: “ba tội, à không, bốn tội lận”. Ông dùng cụm từ này để nhấn mạnh số lượng tội lỗi của họ. Dầu vậy, trong tất cả bảy lời buộc tội này, Đức Chúa Trời không liệt kê hết bốn tội của từng dân tộc. Theo cách suy nghĩ của người Do thái, số bảy tiêu biểu cho sự trọn vẹn. Sau khi nghe bản cáo trạng kết tội bảy dân tộc đó, có lẽ dân Do thái “thở phào nhẹ nhõm”. Đã bảy lần, Đức Chúa Trời phán rằng: “tội ác đến gấp ba bốn lần”. Bây giờ dường như Ngài sắp phán: “Bảy dân tộc, à không, tám dân tộc lận”. Dân tộc thứ tám chính là dân I-xơ-ra-ên. Bản cáo trạng của Đức Chúa Trời dành cho I-xơ-ra-ên là nghiêm khắc nhất liệt kê cách chi tiết tội lỗi của họ (2:6-8). Có lẽ Đức Chúa Trời phải dùng cách nói quanh co để thu hút sự chú ý của dân Do thái. Đa số trong chúng ta thường không quan tâm lắng nghe người khác liệt kê tội lỗi của chúng ta. Nhưng chúng ta lại thích nghe Đức Chúa Trời xét xử tội lỗi của kẻ thù và những người xung quanh chúng ta. Chỉ khi nào họ chú ý lắng nghe, Đức Chúa Trời mới bắt đầu nêu ra lý do thực khiến Ngài phán dạy họ về tội lỗi của họ . Vậy họ đã phạm tội gì? Tội bất công với người bị áp bức (2:6-7.) Trong khi tất cả các sách tiên tri khác cũng nói về sự xét đoán của Đức Chúa Trời, chủ đề của sách A-mốt tập trung một cách cụ thể vào tội bất công đối với người nghèo khó. Các tiên tri khác cũng đề cập tình trạng thiếu công bằng của dân chúng. Tuy nhiên chỉ có ông A-mốt làm nổi bật tội lỗi này trong sách của ông. II. Bất công đối với người nghèo khó (3-6) Phần thứ nhất chứng minh dân chúng can tội bất công đối với người bị áp bức, phần thứ hai kêu gọi họ chấm dứt những việc bất công đối với người nghèo khó (5:7,12). Phần thứ nhất gồm tám lời tiên tri, phần hai ba bài giảng. Cả ba bài giảng đều mở đầu bằng lời kêu gọi: “Hãy nghe” (3:1;, 4:1;, 5:1). Trong bài giảng đầu tiên (Chương 3), Đức Chúa Trời tỏ cho dân Ngài biết rằng sự hình phạt trên họ sẽ tính theo tỷ lệ thuận với đặc ân mà Ngài đã ban cho họ. Đức Chúa Trời đã chọn họ trong tất cả các dân tộc trên đất (3:1-2). Hiện tại họ được phồn thịnh là nhờ đặc ân của Đức Chúa Trời ban cho chớ không phải là nhờ niềm tin của họ. Kèm với đặc ân là trách nhiệm. Thế nhưng dân sự cứ can tội không làm điều ngay lẽ phải (3:10) Trong bài giảng thứ hai (Chương 4), Đức Chúa Trời tỏ cho dân Ngài biết rằng họ phải chịu hình phạt tương xứng với những lời cảnh báo mà họ đã nhận trước đó (4:6-11). Nhiều lần Đức Chúa Trời phán dạy họ thông qua các nạn dịch và tai vạ. Nhưng họ vẫn tiếp tục hà hiếp, bắt chẹt người nghèo khó (4:1). Năm lần Đức Chúa Trời phán với họ rằng: “Dầu vậy, các ngươi cũng không trở lại cùng ta”. Cuối cùng Ngài bảo họ: “Khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi” (4:12). Trong bài giảng thứ ba (Chương 5 và 6), Đức Chúa Trời tỏ cho dân Ngài biết rằng họ phải chịu sự hình phạt tương xứng với việc họ bẻ cong lẽ phải. Họ ghét các quan tòa công minh chính trực (5:10). Họ bóc lột người nghèo khó (5:11). Họ áp bức người công chính, nhận của hối lộ, đối xử bất công với người nghèo. Trong thời như thế người khôn ngoan phải nín lặng (5:12-13). Họ đổi sự chánh trực thành cay đắng, và đổi trái công bình ra thành ngãi cứu (6:12). Vì cớ họ gây đau khổ cho người công bình (5:12) nên Đức Chúa Trời cũng sẽ gây đau khổ (tức là áp bức) cho họ (6:14). III. Bất công với người cùng túng (7-9) Trong phần thứ nhất gồm tám lời tiên tri, phần hai gồm ba bài giảng còn phần thứ ba gồm năm khải tượng. Mỗi khải tượng đều mở đầu bằng cụm từ ‘Chúa Giê-hô-va cho ta xem thấy’ hoặc ‘Ta xem thấy’. Hai khải tượng đều là khải tượng về sự hình phạt dưới hình thức cào cào và ngọn lửa. Nhưng nhờ ông A-mốt nài xin Đức Chúa Trời đừng áp dụng biện pháp hình phạt nặng nề đến thế nên Ngài đã không giáng tai họa ấy (7:1-6). Thứ ba là khải tượng về dây dọi của Đức Chúa Trời. Lẽ ra dân I-xơ-ra-ên tương tự như một bức tường đứng thẳng tắp vì được xây theo chuẩn mực của dây dọi. Nhưng vì cớ họ không ngay thẳng, lươn lẹo, phạm tội nên Đức Chúa Trời phải hủy phá các nơi thờ phượng và lật đổ cấp lãnh đạo của họ (7:7-9). Thứ tư là khải tượng về giỏ trái cây chín muồi đến mức hư thối. Bởi sự tham lam gian lận, cư xử bất công đối với người cùng túng (8:4,6), họ đã trở nên những kẻ thối nát, đồi bại. Vì thế, thời điểm mà Đức Chúa Trời đoán phạt dân Do thái cũng đã chín muồi (8:2). Trong quá khứ, họ đã không chịu nghe theo lời của Đức Chúa Trời khi Ngài giáng nạn đói thực phẩm trên họ. Vì vậy, Ngài cũng sẽ giáng nạn đói khát về lời của Ngài trong tương lai. Lời tiên tri này được ứng nghiệm khoảng bốn trăm năm yên lặng giữa thời ông Ma-la-chi và ông Ma-thi-ơ. Cuối cùng là khải tượng về chính Chúa (9:1). Theo khải tượng thì chẳng có ai thoát khỏi sự hình phạt của Đức Chúa Trời. Ông A-mốt kết thúc phần một và phần hai bằng lời cảnh cáo dân sự rằng kẻ lanh lợi (2:14) cùng người mạnh sức đến đâu cũng không trốn khỏi cơn hình phạt (6:9,13). Ở đây, ông kết thúc phần ba bằng cách bày tỏ cho họ rằng người khôn khéo, tài tình đến đâu cũng không thể trốn khỏi Đức Chúa Trời (9:1-4). Dầu họ trốn ở đâu Đức Chúa Trời cũng sẽ đeo đuổi và bắt họ cho kỳ được. Tuy nhiên, tác giả không kết thúc trong tuyệt vọng, trái lại đầy niềm hy vọng. Chẳng có ai thoát cơn đoán phạt là lời cảnh báo chắc chắn như thế nào, thì rồi đây Đức Chúa Trời sẽ cho dân Do thái nhận lại địa vị đặc biệt và sự thịnh vượng là một lời hứa cũng chắc chắn như thế ấy (9:11-15). Câu Kinh Thánh chính của sách này gói trọn sứ điệp của ông A-mốt: “Thà hãy làm cho sự chánh trực chảy xuống như nước, và sự công bình như sông lớn cuồn cuộn.” Từ ‘sự chánh trực’ trong bản King James Version cũng có thể dịch là ‘sự công bình’. Trọng tâm Đức Chúa Trời không đánh giá sự công nghĩa của chúng ta căn cứ vào mớ nghi thức tôn giáo nhưng căn cứ vào cung cách xử sự công bằng của chúng ta đối với người bị áp bức. Thực hành Có người nói rằng nếu mọi Cơ Đốc nhân trong thế giới này đều sống làm Cơ Đốc nhân đúng nghĩa thì con người không cần đến chủ nghĩa cộng sản. Một sự thật đáng buồn là tình trạng bóc lột người nghèo khó vẫn tồn tại ở cấp độ quốc tế, quốc gia cũng như cá nhân. Hễ người chủ nào trả lương cho công nhân căn cứ vào tỷ lệ đình trệ trên thị trường chớ không căn cứ vào công sức lao động thì người chủ ấy đang bóc lột công nhân. Nếu ai bán hàng trả góp để thu được nhiều lợi hơn giá thị trường thì người đó đang bóc lột người cùng túng. Hễ ai không góp phần vào việc bảo vệ luật pháp trong đất nước của mình thì người đó cũng can tội. Những hạng người dính dáng đến hối lộ và tham nhũng cũng vậy. Có bao nhiêu Cơ Đốc nhân nhận ra rằng số lợi nhuận mà họ thu được từ việc buôn bán hàng hóa và thị trường chứng khoán thường là đồng tiền bòn rút từ đồng lương ít ỏi của tầng lớp nghèo khó và tầng lớp bị bóc lột? Tuy họ làm ăn hợp pháp và vượt tiêu chuẩn yêu cầu nhưng trong thực tế họ có đáp ứng tiêu chuẩn trong lời Đức Chúa Trời không? Tiền từ việc chúng ta kiếm được từ việc mua bán tài sản thế chấp với giá rẻ có thể lại là những mảnh vụn sự nghiệp của ai đó đang tan tành. Phải chăng chúng ta nhận tiền lãi từ cổ phần của chúng ta trong một công ty lợi dụng giá nhân công rẻ tại các nước chậm phát triển trong thế giới thứ ba? Và phải chăng chúng ta sử dụng những lợi nhuận đó để đi nghỉ hè và thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh tại một nơi nào đó rồi chúng ta làm ngơ trước cảnh nghèo khổ của người khác? Có thể bạn chỉ đủ sức làm cho sự công bình nhỏ xuống từng giọt. Nhưng nếu mỗi Cơ Đốc nhân đều góp phần nhỏ bé của mình thì sự công bình sẽ thực sự cuồn cuộn như dòng nước trào dâng. Nội dung sứ điệp loại này hẳn đã gây bất ổn trong lòng chúng ta. Bảng kiệt kê những tội lỗi ‘đáng tôn đáng nể ’ đã đánh trúng tim đen của chúng ta. Có một người I-xơ-ra-ên tên là A-ma-xia đã không chịu tiếp nhận sứ điệp loại này. Sự đoán phạt của Đức Chúa Trời giáng trên ông A-ma-xia chính là lời cảnh báo đáng sợ cho tất cả những ai có tai mà không lắng nghe (7:16-17). Tuy rằng khó lắng nghe sứ điệp của tiên tri A-mốt lắm nhưng buộc lòng chúng ta phải lắng nghe thôi. A-MỐT Ý chính: DÂY DỌI (và) DÂN NGHÈO Chủ đề chính: Sự công bình Cụm từ chính: ‘Sự công bình và chánh trực’ (3 lần) Câu chính: “Thà hãy làm cho sự chánh trực chảy xuống như nước, và sự công bình như sông lớn cuồn cuộn.” Bài học chính: Đức Chúa Trời không đánh giá sự công nghĩa của chúng ta căn cứ vào mớ nghi thức tôn giáo nhưng căn cứ vào cung cách xử sự công bằng của chúng ta đối với người bị áp bức.
www.nguonhyvong.org (Theo NHV SUU TAM) |